Hôm nay,  

Gia Trung Tứ Lão

09/09/202207:27:00(Xem: 4159)

2000-vvnm-ng-v-khanh-gray

LTS:  Nhân ngày Việt Báo tròn 30 tuổi, xin trích lại bài viết của cố nhà báo kỳ cựu Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh. Ông là vị chủ biên sáng lập Việt Báo, và là chánh chủ khảo đầu tiên của giải thưởng Viết Về Nước Mỹ.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh sinh ngày 2 tháng 10 năm 1921. Làm báo từ năm 1948, Ông là nhà báo chuyên nghiệp đã sống liên tục với nghề báo suốt 74 năm. Ông từng du học và tham quan về truyền thông tại Nhật Bản và Hoa Kỳ, thời Việt Nam Cộng Hoà, ông là Tổng Thư Ký Việt Nam Thông Tấn Xã, đồng thời là giáo sư dạy về báo chí tại các Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học Đà Lạt, người thầy của nghề báo Việt Nam.

Sau hơn 12 năm tù cộng sản, năm 1992, ông cùng vợ rời Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với các con tại San Jose, khi đó Ông đã qua tuổi bẩy mươi, có thể an nhàn nghỉ ngơi bên cạnh con cháu. Nhưng êm ấm mới được dăm ba tháng, chuông điện thoại lại reo.- “Lão Nhị, làm báo lại nhé.” – “Làm thì làm. Sợ gì.” – “Lão Nhị phải xách cái túi xuống ở luôn dưới này. Xuống được không” – “Cái gì? Cái này... Hà hà... để coi, Lão Tứ.” (Lão Nhị-Lão Tứ là cách thức xưng hô trong tù của Ông và nhà thơ Trần Dạ Từ, người cùng nhà văn Nhã Ca sáng lập tờ Việt Báo năm 1992).

 

Chỉ vài ba ngày sau, với một cái túi nhỏ trên tay, Ông cười cười xuất hiện tại Little Saigon. Và từ thứ Bảy ngày 5 tháng 9 năm 1992, Việt Báo Kinh Tế ấn hành số đầu tiên. Liên tục suốt 20 năm, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh giữ mục bình luận “Việt Báo: Trước Thời Cuộc” cho tới những năm tháng cuối đời.

Ông viết bài này vào mùa xuân năm 2005, nhắc đến các văn nghệ sĩ cầm bút của miền Nam: “Cộng sản đã bắt nhốt các văn nghệ sĩ. Nhưng có gông cùm nào nhốt được cái chí chim bằng, có xiềng xích nào trói được trái tim sư tử. Thân bị nhốt trong nhà giam chật hẹp, nhưng tư tưởng của nhà văn có cả một không gian rộng lớn vô tận vô biên để tự do vẫy vùng.” 


Vị cố nhà báo có “chí chim bằng và trái tim sư tử” của chúng ta từ trần tại tư gia vào ngày Chủ Nhật, 12 tháng Tám năm 2012, hưởng thọ 92 tuổi. Với 92 năm sống và 74 năm cầm bút, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh là tấm gương tiêu biểu phẩm giá của người làm báo, tỉnh thức và chân thực. Khi thanh thản ra đi, ông gửi lại cho tương lai niềm tin vào con người và lý tưởng tự do, dân chủ. 

 

***

Vào dịp Xuân mới, tôi muốn ôn lại một chuyện cũ. Đó là chuyện Tứ Lão ở trại tù Cải tạo Gia Trung, nơi giam giữ phần đông các văn nghệ sĩ năm xưa. Trong thời miền Nam Việt Nam còn được sống tự do dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, các nhà văn nhà báo thường ít khi có dịp gặp nhau, nếu có là trong khoảng thời gian ngắn của các dịp lễ tết hay họp báo, hoặc ngắn hơn nữa là dịp tao ngộ qua tách cà-phê ở nhà hàng để rồi sau đó, vội vã người nào việc nấy đi làm phận sự riêng. Nhưng sau khi Saigon sụp đổ, nhờ ơn Bác và Đảng các văn nghệ sĩ bị lùa đi cải tạo theo kiểu “tam cùng” (cùng ăn cùng ở cùng làm), chúng tôi đã có dịp gặp nhau hàng ngày trong nhiều năm liên tiếp, tạo thành mối quan hệ khắng khít với nhau hơn trước rất nhiều.

 

Hoàn cảnh những người văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam trong trại tù cải tạo Gia Trung, gần Pleku, có lẽ khắt khe hơn những thành phần khác, nên đã có một bài thơ nhiều anh em đã biết, tôi xin nhắc lại như sau:

 

“Cây sậy chân tay quều quào của chúng ta,

“Có thể hết bưng nổi cái sọ dừa cứng đầu,

“Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa. Sắp chết.

“Sắp đến lượt Lưu. Đến lượt Doãn. Đến lượt Lê.”

(Nguyễn và Nguyễn là nhà báo Nguyễn Viết Khánh và nhà văn Nguyễn Sĩ Tế. Lưu là nhà văn Mặc Thu Lưu Đức Sinh. Doãn là nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Lê là người làm thơ, tức Lê Hà Vĩnh bút hiệu Trần Dạ Từ).

 

Chính trong bối cảnh gần đất xa trời đó, nhóm Gia Trung Tứ Lão ra đời. Chúng tôi đã nhiều lần nhắc đến bộ Tứ này. Nay vì trong bốn đã có hai ra đi, tức đã mất đi một nửa nên chúng tôi muốn nói rõ hơn chuyện này một chút để tránh mọi sự hiểu lầm. Việc thành lập nhóm Tứ lão không phải là chuyện cố ý để tách rời khỏi các anh chị em văn nghệ sĩ khác mà chỉ do một sự tình cờ, đúng hơn là một cái “duyên”. Chúng tôi cũng không uống máu ăn thề hay họp nhau theo kiểu Đào viên kết nghĩa vì làm như vậy là tự cho chân vào cùm trong biệt giam.

 

sd nvk
Từ trái: Mặc Thu Lưu Đức Sinh - Nguyễn Sỹ Tế - Trần Dạ Từ Ký họa CHÓE



Tứ Lão có Lưu Đức Sinh, Nguyễn Sĩ Tế, Trần Dạ Từ và tôi. Tôi được biết nhiều hơn như một ký giả, nhưng báo chỉ là cái vỏ, còn cái ruột vẫn là văn. Chúng tôi là giống đa tình, nhạy cảm. Và cái “duyên” gắn bó là cả bốn đều thích thơ Đường và chuyện chưởng, nên hay gặp nhau trong giờ nghỉ để đấu láo cho đỡ buồn. Đấu láo để có vẻ tếu, nhằm tránh cái nhìn soi bói của đám cán bộ công an coi tù cũng như đánh lạc hướng những tay sai “ăng-ten” nghe lén của chúng. Thật ra giữa những chuyện tếu, khi có thời cơ vắng người chúng tôi lại rỉ tai nhau về những chuyện cần cảnh giác trong trại, nhất là những tin tức bên ngoài do người nhà đi thăm nuôi lén cho biết.

 

Về Đường thi, chúng tôi đã có 3 người là nhà thơ, còn về chuyện chưởng tôi lãnh phần chính. Ở ngoài đời từ năm 1960, tôi đã từng dịch nhiều đoạn chuyện chưởng từ chữ Hán theo sách báo của Hong Kong, không phải vì tôi muốn kiếm thêm tiền mà vì thích chuyện chưởng. Bởi vậy tôi nhớ được các chuyện chưởng nên có thể “quay phim” những đoạn mà tôi cho là hay, tôi cũng bình luận theo kiểu Mao Tôn Cương đôi khi đượm vẻ tiếu lâm nên khi chúng tôi nói chuyện, nhiều anh em tù nhân khác cũng xúm lại nghe để rồi cùng phá lên cười ha hả, xôm trò vô cùng. Về việc dịch tiểu thuyết võ hiệp từ chữ Hán ra tiếng Việt, người tâm đắc với tôi nhất là anh Mặc Thu. Chúng tôi đều đồng ý về một điểm: Giỏi chữ Hán không có nghĩa là đã biết dịch chuyện chưởng cho hay. Dịch chuyện chưởng là phải thấu được ngôn ngữ và tác phong đặc biệt của tiếng Việt trong chuyện chưởng. Nếu không, chuyện chưởng Việt ngữ sẽ trở thành ngô nghê, lạc lõng và khó hiểu. Về điểm này tôi xin nói thêm tôi rất kính phục các vị dịch chuyện chưởng đi trước tôi vào thời đó như Hàn Giang Nhạn và Tiền Phong, tôi chẳng khi nào mạo muội muốn tranh tài với mấy vị đàn anh trong môn “võ công” này.

 

Vậy danh xưng “Tứ lão” ở đâu mà ra? Sự thật chúng tôi không bao giờ tự coi như một nhóm riêng nên không có chuyện đặt tên cho nhóm. Nhưng sau nhiều tháng họp thành thói quen như vậy, một hôm tình cờ tôi quay lại cuốn Thiên Long Bát Bộ, có đoạn nói đến Tứ đại ác nhân. 1)Đệ nhất Ác Đoàn Diên Khánh, Ác quán mãn doanh, 2)Đệ nhị Ác Diệp Nhị Nương, Vô Ác bất tác, 3)Đệ tam Ác Nam Hải Ngạc Thần, Hung thần Ác sát, 4)Đệ tứ Ác Vân Trung Hạc, Cùng hung cực Ác. Nên ghi nhớ hỗn danh của kẻ ác nhất có chữ Ác đứng đầu. kẻ ác nhì có chữ Ác đứng thứ hai, kẻ ác ba có chữ Ác thứ đứng thứ ba và kẻ ác bốn có chữ Ác đứng thứ tư. Cách dùng chữ của Kim Dung quả thật đã vào hàng cao thủ đệ nhất thiên hạ. Sau khi kể xong chuyện này bỗng có một bạn thính giả đứng ngoài xem nói: “Mấy ông có 4 người, vậy không giống tứ ác rồi sao”. Mọi người cùng rú lên cười và chúng tôi cũng cuời híp mắt, thích thú. Chuyện cuời nghe qua rồi bỏ mà. Hôm sau chúng tôi lại ngồi với nhau, nhưng trước khi định làm gì, không hiểu sao cả bốn bỗng im lặng rồi bốn cái mồm cùng nhếch ra cười và nói “Tứ Ác họp”. Chúng tôi đã bắt đầu yêu trò giễu này.

 

Vài ngày sau, Trần Dạ Từ nói: “Trong chuyện họ gọi Đệ nhất Ác là Lão Đại, vậy trong chúng ta ai là Lão Đại đây?” Chúng tôi đồng ý anh nào lớn tuổi nhất là Lão Đại. Mặc Thu và tôi xấp xỉ tuổi nhau, nhưng vì Mặc Thu có vẻ tiên phong đạo cốt, trông già hơn cả bọn nên tôi đề nghị Mặc Thu là Lão Đại. Mọi người hoan ngênh. Tôi là Lão Nhị, Nguyễn Sĩ Tế là Lão Tam và Trần Dạ Từ là Lão Tứ. Từ đó và cả sau khi ra khỏi tù Cải tạo, bốn danh xưng “ác” bám lấy chúng tôi khi nói chuyện với nhau. Bốn anh ác đó chỉ là “giả tưởng”, hoặc như về sau có anh nào bị ai - hay bà nào - gọi là ác thật, thì cố nhiên đó là chuyện cấm ngoại cuộc không ai được biết. Thật ra anh em chúng tôi đều hiền khô chớ không ác, nhưng mỗi người một vẻ khác nhau.

 

Trong bốn người, Nguyễn Sĩ Tế có vẻ đạo mạo nhất, ăn nói nhỏ nhẻ chậm rãi, ít khi nóng nảy lớn tiếng, anh giỏi chữ Hán hơn tôi nên tôi học được ở anh rất nhiều. Tác phong của anh đúng là một nhà mô phạm làm tôi liên tưởng đến một nhân vật trứ danh trong cuốn Tiếu Ngạo Giang Hồ. Đó là vị Thái sư thúc tổ Phong Thanh Dương, ẩn dật trong một hang núi của đỉnh Hoa Sơn. Mặc Thu có vẻ tiên phong đạo cốt nên tôi thấy anh giống Trương Tam Phong, Chưởng môn nhân phái Võ Đang trong cuốn Ỷ Thiên Đồ Long Ký. Trần Dạ Từ giống anh chàng Quách Tĩnh trong cuốn Anh Hùng Xạ Điêu, võ công đầy mình nhưng lại rút về trấn ải thủ đồn, một tay điều binh khiển tướng để giữ sao cho thành (hay Tòa soạn) khỏi sập tiệm. Còn Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh thì sao? Tôi chỉ là một lãng tử đơn thân khăn gói quả mướp, xách kiếm đi hoang để.... “Tiếu Ngạo Giang Hồ”.

 

Cộng sản đã bắt nhốt các văn nghệ sĩ. Nhưng có gông cùm nào nhốt được cái chí chim bằng, có xiềng xích nào trói được trái tim sư tử. Thân bị nhốt trong nhà giam chật hẹp, nhưng tư tưởng của nhà văn có cả một không gian rộng lớn vô tận vô biên để tự do vẫy vùng. Trong những tháng tôi bị biệt giam, chân bị cùm đau nhức đêm ngày, cơ thể bị teo lại vì bị bỏ đói, cán bộ Cộng sản bảo tôi bị “bao vây kinh tế”, tức là một cách tra tấn không có dụng cụ cực hình để ép tôi phải khai ra những gì họ nghi là tôi biết mà không chịu nói. Lạ lùng thay lúc tôi tin tôi sắp chết lại lúc đầu óc tôi sáng tác được chuyện khoa học giả tưởng, chuyện hư cấu diễm tình mà sau khi ra khỏi biệt giam tôi có dịp kể lại cho các anh em trong tù nghe. Nhiều người tưởng đó là những tiểu thuyết tôi đã đọc từ trước khi đi cải tạo.

 

Tôi không phải là một người anh hùng. Nhà văn nhà báo không phải là những người anh hùng. Chúng tôi cũng biết sợ như bất cứ ai. Trong tù Cải tạo Cộng sản, bất cứ ai dù trước là ông quan, ông tướng, ông tá, khi đi lao động gặp lúc có những nhu cầu của cơ thể con người, tất cả đều biết chụm chân đứng nghiêm như lính, hướng về anh cán bộ mặt còn non choẹt để hô lớn: “Báo cáo cán bộ, xin phép cán bộ cho tôi đi tiểu”. Nếu không làm như vậy mà tự ý đi ra bờ ruộng bờ rừng, cán bộ quản chế sẽ nổ súng bắn bỏ không chút nương tay. Năm xưa nếu Hàn Tín không chịu nhục luồn chôn thì về sau làm sao có cơ hội làm Tướng và trả ơn bát cơm Phiếu mẫu? Ở tù Cộng sản cũng có những người tù anh hùng. Những người đó không trở về. Họ còn ở đó, trong lòng đất lạnh. Giờ đây những nấm mồ hoang đó có thể đã bị san bằng không còn chút di tích. Chúng tôi đã trở về.

 

Tứ lão đều đã đến được nước Mỹ. Lão Đại đến muộn nhất nhưng anh lại là người rời nước Mỹ sớm nhất và cũng ra đi vĩnh viễn sớm nhất. Năm 2002 Mặc Thu từ trần ở Việt Nam trong khi về thăm quê nhà. Tôi có duyên may được góp phần xây dựng tờ Việt Báo nên từ hơn 12 năm qua tôi và Trần Dạ Từ làm việc sát cánh bên nhau, ngay cả trong những năm gần đây tôi không còn ở Nam California. Riêng với anh Nguyễn Sỹ Tế, tôi ít khi được gặp anh. Nhưng tôi còn nhớ hình ảnh lần chót tôi tình cờ được thấy anh. Lúc đó khoảng năm 1997, tôi đang đi bộ trên vỉa hè đường Bolsa, chợt nhìn thấy Nguyễn Sĩ Tế đang chống gậy đi chầm chậm trên vỉa hè đường phía bên kia. Trông anh đã có vẻ yếu rồi, mắt đeo kính đen có vẻ thị lực cũng rất yếu. Tôi muốn chạy băng qua đường để nắm tay anh, nhưng qua làm sao được vào giờ đường Bolsa đông xe nhất. Giòng đời của nước Mỹ ồn ào và sống động đã ngăn cách anh và tôi. Bây giờ nghĩ lại, phải chăng điềm báo trước tôi nhìn thấy anh lần chót? Nguyễn Sĩ Tế không còn nữa.

 

Năm 2002, khi được tin Mặc Thu qua đời tôi viết bài “Thắp Nén Hương Lòng” để tiễn anh về chốn cửu tuyền.

Bài viết này cũng là một giọt lệ trong không gian trừu tượng để đưa anh Nguyễn Sĩ Tế về Thế giới bên kia, đến Văn miếu trên cao thẳm, nơi có những mộ bia ghi công đức của những bực thầy vĩ đại ở cõi Thế này.

 

Tháng 12 năm 2005.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.

Phân lý chữ nghĩa Bùi Giáng là việc làm nghiêm túc một cách khôi hài. Phê bình thơ Bùi Giáng là khôi hài một cách nghiêm túc. Tôi chú ý đến hai đối cực hài hòa này vì càng suy nghĩ, càng lý luận, thì càng cảm nhận chất khôi hài trong thơ Bùi Giáng là một đặc sản. Thưởng thức thơ Bùi Giáng, trước hết là thú vị với cách thế đùa nghịch chữ nghĩa và tứ thơ của ông, tiếp theo là những ngạc nhiên về chất lượng ngộ nghĩnh và biến hóa trong ý nghĩ, tư tưởng của Bùi Giáng một cách sâu sắc và sự sâu sắc này mang đến lòng ngưỡng mộ, vì sự sâu sắc này mà chúng ta cần phải nghiêm túc.Trước Bùi Giáng có rất nhiều nhà thơ làm thơ hài hước nổi danh như Tú Xương, và các ông tú sau này. Hầu hết các nhà thơ thành danh đều có thơ hài hước, như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, vân vân. Tuy nhiên, gần như những hài hước đó luôn kèm theo sự mỉa mai, nụ cười xách mé, mỉm cười khinh bỉ, nín cười che miệng, cười lớn chế nhạo. Trong khi chất khôi hài của Bùi Giáng qua thơ chỉ tạo ra nụ cười hoặc tức cười.
Văn học về sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết là một chủ đề cần thiết cho nhà văn sáng tác tác phẩm hư cấu bằng tiếng việt. Những nhà văn không học tập theo lề lối chính quy thường tự tin vào khả năng sáng tạo bẩm sinh và khả năng thu thập kinh nghiệm, gọi là “khiếu”, để trở thành nhà văn tự nhiên, cũng đôi khi là nhà văn bỗng nhiên. Những nhà văn được huấn luyện từ trường ốc, nếu không thường xuyên cập nhật văn học sáng tác đương đại, sẽ lỗi thời. Những nhà văn nổi bật trong lịch sử văn chương, thông thường là những người có khả năng tự học rất cao. Song song với sáng tác, họ là những nhà văn học lỗi lạc, cho dù, có thể họ không viết một điều gì về nghiên cứu phê bình. Tôi không phải là người có “khiếu” văn chương cao, cũng không thông qua quá trình học viện hoặc trường lớp sáng tác, chỉ có ý thích tìm hiểu văn học và thử nghiệm những gì đã nghiên cứu. [Không phải là lời khiêm nhường mà là lời trung thực.] Và “Nhận Thức Bảy T” là một phần góp nhặt mà tôi đã kinh qua.
Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.
126 câu thơ 7 chữ, xứng đáng gọi bài thơ này là một trường ca. Một trong vài bài thơ dài được phân tích và phê bình nhiều lần bởi một số nhà phê bình chuyên và nhiều nhà bàn thơ tản mạn mang tính nghiệp dư. Hầu hết là khen ngợi sau khi giải thích những ý nghĩ tương đối dễ nắm bắt và những ngụ ý, ẩn dụ quen thuộc tạo nên sự dễ dàng cảm nhận. Đó là bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên. Nếu là một bài thơ có giá trị thật hoặc có giá trị bị hoài nghi thì công việc phân tích phê bình bài thơ đó sẽ được tiếp tục qua nhiều thế hệ, ví dụ như chúng ta tiếp tục tìm hiểu và phê phán “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm, hoặc cao hơn là “Kiều” của Nguyễn Du.
... Tôi cảm thấy may mắn vì tôi vẫn có thể kết nối với tổ tiên tôi qua tiếng nói. Nó giúp tôi vững tin hơn vào giá trị những gì tôi hằng tin tưởng và đam mê theo đuổi. Nó phả sức sống vào một người viết lưu vong, cô đơn, tại một bàn viết lữ thứ, cách xa quê hương cả một đại dương rộng lớn...
Khi viết, cô ở trong cơ thể mình, không thể phản bác lại điều đó. Nhưng làm sao giải thích được đồng thới cô cũng ở một nơi khác? Khi viết, cứ như thể cô đang làm việc từ độ cao sáu inch phía trên và ngay trước đầu mình. Nếu năng lượng viết rơi trở lại cơ thể, mọi thứ viết lách đều dừng lại.
Đời Phi Công là truyện vừa, 54 trang, gồm 9 chương. Theo lời tác giả: “Một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời”. Phượng cô em hàng xóm ông dạy kèm ở Hà Nội từ hồi nhỏ. Đầu lá thư ông chỉ viết “Phượng”, trong thư có thêm “Phượng em”!
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.
Trong một tiểu luận về văn chương Franz Kafka, Milan Kundera đã bắt đầu bằng một câu chuyện có thật xảy ra trên xứ Tiệp Khắc, quê hương ông, dưới thời đảng Cộng sản còn cai trị đất nước này. Một anh kỹ sư được mời sang thủ đô London, Anh quốc để tham dự một hội nghị chuyên ngành. Hôm trở về nhà vào văn phòng làm việc, anh lật tờ báo mới phát hành sáng hôm đó và đã giật bắn người vì trên báo loan tin một kỹ sư người Tiệp sang London dự hội nghị đã xin tị nạn chính trị ở lại Tây phương. Nên nhớ đó là cao điểm căng thẳng của cuộc Chiến tranh Lạnh toàn cầu, đối với các quốc gia trong khối Cộng sản, tị nạn chính trị có nghĩa là phản quốc, là trọng tội mang án tử hình. Anh kỹ sư nọ đã vô cùng hoảng hốt khi đọc bản tin trên báo.
Khi một tác giả hoàn tất xong một bản thảo của một tác phẩm mới, câu hỏi đầu tiên có lẽ tác giả sẽ tự nêu lên rằng: ai sẽ đọc những dòng chữ này của mình? Hẳn là Thầy Tuệ Sỹ cũng có suy nghĩ như thế khi hoàn tất bản thảo tác phẩm “Lý Hạ: Bàn Tay Của Quỷ” vào ngày 19/1/1975. Xin chú ý con số rất tiền định: 1975. Người viết đã hình dung ra hình ảnh Thầy Tuệ Sỹ đứng nơi Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh nhìn ra sân trường, khi Thầy vừa hoàn tất tác phẩm trên khoảng gần nửa thế kỷ trước. Thầy Tuệ Sỹ đã suy nghĩ gì khi cất bản thảo trên vào một góc kệ sách và rồi đời Thầy sẽ không còn thì giờ để mở ra xem nữa? Những gì đời sau biết về nhà thơ Lý Hạ của Trung Hoa không nhiều như các nhà thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Lý Thương Ẩn... Nhà thơ Lý Hạ tuổi thọ chỉ khoảng 25 hoặc 26 hoặc 27 tuổi. Năm sinh của Lý Hạ mơ hồ: tiểu sử trên Wikipedia ghi rằng họ Lý sinh năm 790 hoặc 791.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.