Hôm nay,  

Tuổi Nhớ Răng

24/03/202300:00:00(Xem: 6098)

Picture3
Hình ghép.
 
Sau khi nhổ răng, tôi xin anh nha sĩ trẻ mấy cái răng chết, khá thê thảm, để mang về. Lần trước cũng vậy. Anh tỏ vẻ thông cảm. “Bác giữ làm kỷ niệm?” “Vâng. Chúng nó theo tôi bảy mươi mấy năm rồi. Chiến đấu giỏi lắm. Giữ xác lại để nhớ.” Đúng. Răng kề cận người hơn tình nhân. Ở với người trung thành hơn vợ. Nói cắn là cắn, nói nhai là nhai, nói nhe là nhe, nói ngậm là ngậm. Tuyệt nhiên vâng lời, không cãi cọ gì. Chỉ có già đi, lỏng chân, rồi vĩnh biệt.

Tôi dàn dựng một “công trình” trực quan, visual pop art, bằng tất cả những chiếc răng tử vong của tôi đã nhổ trong thời gian mười năm qua. 26 tử sĩ, chỉ còn 6 chiến sĩ sống sót, mỗi chiếc đóng mỗi nơi rãi rác, ba răng ở hàm trên, ba răng ở hàm dưới. Đến tuổi đời nào đó, ai cũng phải xin viện trợ răng giả. Đối với thế hệ di tản, tị nạn, thế hệ đầu tiên, răng giả thường đẹp hơn răng thật. Thành thật mà nói, răng giả chẳng những làm đẹp, còn làm giảm bớt căng thẳng, không còn lo âu về đau răng, không cần nhớ đánh răng, thanh thản huýt gió. Đi ngủ tháo ra ngâm nước như cởi cái quần ngủ bỏ giặt.

Ở Việt Nam, thời của tôi, răng được xác định rõ ràng, Răng khểnh, cười có duyên. Răng hô, răng sún được sắp hạng sau lé với lùn. (Nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ sún.) Người nào sún thường bị nghi ngờ nói láo kinh niên. Nói chung, văn hóa người Việt, không quan tâm hàm răng đều đặn. Màu răng trắng không được ưu ái. Tôi còn nhớ tấm bảng quảng cáo lớn về kem đánh răng Hynos ở chợ Bến Thành. Anh chà và da đen cười, thấy hai hàm trắng toát. Cảm giác hơi sợ.
 
Ngược lại, văn hóa răng của người Việt đi từ răng đen. Răng đen có một thời hấp dẫn, “Các cô hàng xén răng đen / cười như mùa thu tỏa nắng” (Bên Kia Sông Đuống, Hoàng Cầm.) Sau thời răng đen sang tây học là thời răng trắng. Tuy gọi trắng nhưng thật sự màu ngà, hoặc màu tự nhiên, có sao để vậy. Vẫn có duyên, vẫn cười tươi, cười duyên, vẫn yêu nhau thắm thiết. Chúng tôi thời đó không mấy người biết đến nha sĩ để tắm răng, kỳ cọ dơ bẩn. Cứ uống bia, uống nước là sạch. Cứ uống rượu, hút thuốc là giết vi trùng.

Ở bên này, hàm răng ấp chiến lược thì ngại ngùng khi cười trước đám đông. Phong trào niềng răng xuất hiện hầu hết trong miệng các em trẻ. Một số người lớn muốn theo kịp thời trang, đành chịu đau nhức, ăn cháo một thời gian, để răng được sánh vai đứng thẳng hàng.

Đã có vợ, lấy chồng, thường không quan trọng chuyện răng thẳng hàng, trắng tinh. Thuở mới quen nhau, nam nữ nhìn mặt, nhìn người. Dung nhan đẹp gái, đẹp trai, dễ thương là chủ yếu. Thân thể đừng quá thiếu thốn, nhan sắc vẫn là điểm nhấn khi chọn lựa. Nói như vậy là lý luận hơi nhiều. Thực tế, khi mới gặp nhau, nhìn thấy đối phương, tự nhiên lòng hồi hộp, sung sướng, thích thú, rồi khi ra về thì không nở.

Mai tôi ra đi chắc trời mưa
Tôi chắc trời mưa mau
Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội
Nhưng chậm thế nào cũng phải xa nhau…

                                        (Paris. Thơ Nguyên Sa.)
 
Khi đã là vợ chồng, biết nhau quá rồi, để dành tiền vui hơn. Thế hệ của chúng tôi thích tiền xếp thẳng hàng hơn răng thẳng.
 
Răng giả có nhiều điểm lợi, ví dụ, răng thật bị hô, bị sún, bị xiết. Khi rụng hết răng, tuy không nói ra, nhưng lòng mừng như tự nhiên được phép lạ. Một hàm răng giả tròng lên lợi, hết hô, hết sún, hết xiết, nếu có bảo hiểm trả tiền, thật tuyệt vời. Vì vậy, nha sĩ thường giàu hơn bác sĩ.

Răng giả ăn không ngon, cắn trệu trạo, vô cảm, không thật sự tiếp xúc với thực phẩm. Ai nói? Không đúng. Tôi đã có lần ngồi chung bàn với một số anh em nghệ sĩ cao tuổi hơn. Hết mọi người trong bàn đều trang bị răng giả, ngoài trừ tôi lúc đó, còn 15 cái răng thật. Uống bia thì giống nhau, vì răng và bia là họ hàng. Đến phần ăn bắp nướng. Các anh cạp rột rột, răng giả chạm cùi bắp, vang vang đều đặn, rột rột. Chỉ có tôi là e dè, gặm nhấm nhu mì, để dành lực lượng răng vào việc hữu ích hơn. Quả tình, thật không bằng giả.

Trong hai chục năm qua, nghệ thuật Dental implants, trồng răng giả, từ từ thịnh hành. Cái hàm giống như một thiết bị, răng được vặn vít vào xương. Vững như trời trồng. Nhưng nếu ai bị dị ứng, hoặc hệ thống phòng thủ trong người nhạy cảm, không chấp nhận răng ngoại quốc đến ăn nằm, sẽ phản kháng. Một số ít người phải lấy răng vít ra, mang lại hàm răng giả. Không sao. Không có gì quan trọng. Răng vốn chỉ dùng để nhai.   
 
Nhưng phức tạp ở răng giả, mang hoặc trồng, đều phụ thuộc vào xương hàm và lợi. Xương hàm và lợi thay đổi theo thời gian, theo mập ốm, theo bệnh tật, theo tuổi già. Khi xương hàm thay đổi, răng trồng không giữ được vị trí cũ, nếu nặng thì liểng xiểng, liêu xiêu. Muốn đẹp, phải làm lại. Còn lợi thay đổi, mập lên, mang hàm răng giả không vừa, giống như mặc quần áo chật. Nếu lợi teo lại, quần áo rộng rãi và hay sút, đôi khi, răng đi đường răng, lợi đi đường lợi. Dán răng. Lượm răng. Thật là nhiêu khê.
Nhưng rồi, cảm ơn sự tiến bộ của khoa học. Kỹ thuật mới ra đời: Stem Cell Dental Implants (Nha khoa cấy tế bào gốc.) Nghĩa là trồng răng một cách tự nhiên. Răng mới mọc lên từ chỗ răng rụng như thuở mới mọc răng lớn lên. Như cây trồng từ hạt mầm, từ máu huyết, mọc lên vừa vặn, răng mới trám vào chỗ hở.
Tế bào gốc nha khoa là gì?

“Cơ thể chứa nhiều loại tế bào khác nhau. Ngay từ khi sinh ra, với tư cách là một hạt bụi nhỏ, bạn không được trang bị tất cả các loại tế bào khác nhau cần thiết trong cơ thể. Tế bào gốc là thứ giúp bạn tạo ra tất cả các cơ quan và hệ thống khác nhau tạo nên con người bạn. Chúng là một tế bào không phân biệt có khả năng thay đổi thành mọi tế bào trong cơ thể bạn.

Tế bào gốc có thể được tìm thấy trong hầu hết các mô của cơ thể và giúp tạo ra và bổ sung cho cơ thể. Chúng thường được chôn sâu, ở những nơi khó tìm,  thưa thớt và ẩn giữa các tế bào có bề ngoài giống nhau.

Các nhà khoa học đã phát hiện ra, ngay cả những chiếc răng cũng chứa một kho tế bào gốc, loại tế bào này được tìm thấy ở răng sữa và cả răng trưởng thành. Những tế bào này có đầy đủ khả năng tự tái tạo.

Tế bào gốc nha khoa có thể có ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học y tế do khả năng tương thích với hệ thống miễn dịch của cơ thể. Một vấn đề với việc chèn tế bào gốc là cơ thể có thể từ chối chúng thông qua phản ứng miễn dịch. Nhưng ngoài vai trò tiềm năng trong các thủ tục y tế khác, ứng dụng rõ ràng thực sự là để thay thế răng. Các nghiên cứu đang bắt đầu chỉ ra những lộ trình hữu hình để cấy ghép răng bằng tế bào gốc nha khoa.” (Trích: Verywell Heath. Why stem cells replace dental implants. Steven Lin, DDS. 26 tháng 10, 2021.)

  “Trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Nha khoa, Tiến sĩ Jeremy Mao, giáo sư Y khoa Nha khoa tại Trung tâm Y tế Đại học Columbia, đã trình bày chi tiết công trình của ông trong việc chế tạo từ xương hàm, nơi các tế bào gốc của cơ thể có thể được định hướng để phát triển. Khung tế bào gốc có thể dẫn đến sự thành hình  những chiếc răng hoàn toàn mới để thay thế những chiếc răng bị mất! Khi phương pháp này trở nên phổ biến trên thị trường, nó có thể giúp “cấy ghép” nhanh hơn (chỉ chín tuần) và thời gian phục hồi ngắn hơn so với cấy ghép nha khoa thông thường.” (Trích: https://www.arizonabiltmoredentistry.com/stem-cells-regrow-teeth/)

Tuy nhiên, ngay giờ phút này, kỹ thuật Nha khoa cấy răng bằng tế bào gốc vẫn còn trong phòng thí nghiệm. Hẹn một tương lai gần. Nhanh lên kẻo muộn.

Không ai có thể ngờ, một hôm mình nhớ răng. Thế giới bao la, đời người hỗn loạn, thiếu gì thứ để nhớ. Nhưng nhớ răng, không buồn như nhớ người qua đời, không vui như nhớ lễ lạc, không ngậm ngùi như  nhớ tình nhân, chỉ lan man lãng mạn nhớ lại nụ cười trong những tấm hình cũ, lúc răng chưa tử vong. Lúc đó, ít ai thương mến răng của mình. Bây giờ mất rồi, nhớ lại, thật tội nghiệp. Đám răng trung thành chiến đấu thực phẩm với mình bảy mươi mấy năm. Không ai làm thơ, viết nhạc ca tụng răng. Nói về bạc bẽo, chuyện này thật là bạc bẽo.

Tôi để dành tất cả những răng đã qua đời như vật liệu quí báu, quan trọng để tạo hình. Tôi đã định ra một dàn dựng từ lâu. Một tác phẩm nghệ thuật đầy sáng tạo. Nhưng trước hết, khi chiếc răng cửa bị gãy:

Thường thì người ta hay rụng răng hàm, răng nanh trước. Tôi mất răng cửa. Khốn nạn vì nó trình diện đứng trước hàng đầu khi cười. Không có nó, cửa sổ mở không treo màn, thấy hết gia cảnh nghèo khó bên trong. Trong khi chờ đợi làm răng giả, khá lâu, cười nói che miệng hoài cũng chán. Và không thể nhớ hoài, thỉnh thoảng vẫn bị lộ tẩy. Vã lại, anh hùng mà che miệng nói, trông y như tiểu nhân. Có vẻ ám muội, mưu đồ. Tôi mang cái xác răng cửa ra, tự chế tạo hai cái móc, mua ở Home Depot. Bây giờ cái răng như con cua có hai càng. Mỗi càng móc vào mỗi cái răng hai bên như các bạn cũ gặp nhau, quàng vai đi ở giữa. Tha hồ cười nói, nhưng không thể ách xì. Kinh nghiệm này, tôi đã trải qua. Khi ách xì, hơi mạnh tống răng treo văng mất. May lắm mới tìm lại được.

Chuẩn bị tác phẩm đã lâu. Lúc này nên hoàn tất.

Tôi đã đứng trước gương soi và chụp nhiều tấm hình về hàm răng của mình. Giờ đây, xem xét thật kỹ lưỡng. Dùng tất cả răng chết, sắp đặt theo thứ thự, theo độ cao thấp, theo độ xiên xẹo, theo độ lòi sỉ, giống như bộ răng cũ lúc còn sống đoàn tụ bên nhau. Dùng loại keo đặc biệt dán đồ sứ, dán chúng lại với nhau, từ nay không cách nào chia ly. Nếu như, có thể dáng hết những người thân yêu đã qua đời như dán hàm răng, thì hạnh phúc biết mấy. Điều “không bao giờ chia ly” là giấc mơ lớn nhất khi làm người và giấc mơ này luôn luôn đau đớn khi thức dậy.

Bây giờ, tôi đã có mấy đoạn răng thật, móc nối vào những chiếc răng sống sót, soi gương thấy lại “mình” và răng mình như xưa. Cảm giác này thật sung sướng, khoan khoái. Đứng đó, trước nhân gian, tự cười rất lâu mà không mỏi miệng.

Tuy có hàm răng giả chính hiệu từ nha sĩ, nhưng mỗi khi muốn làm người chân thật, tôi lại mang răng tử sĩ của mình. Nhất là những khi ngồi uống rượu một mình, hoặc bưng ly cà phê nóng trước hoàng hôn, nhai nhai hàm răng không, nhai nhai hàm răng cũ, cảm giác thân quen, ấm áp, phất phơ một chút bùi ngùi. Không ai có thể ngờ, một lúc nào đó, con người lại bước vào tuổi nhớ răng.

Tục ngữ Việt Nam có câu “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ.” Câu nói này ngày nay đã được chứng thực qua nghiên cứu khoa học của Giáo Sư Janet M. Gibson dạy về Tâm Lý Học Nhận Thức tại Đại Học Grinnell College ở tiểu bang Iowa của Hoa Kỳ cho thấy rằng nụ cười là rất tốt cho sức khỏe tinh thần và thể xác. Nhưng làm sao để có nụ cười an lạc trong cơn đau khổ của đại dịch vi khuẩn corona đã và đang hoành hành trên khắp thế giới trong hơn 10 tháng qua, mà tính đến cuối tháng 11 năm 2020 đã có hơn 63 triệu người bị truyền nhiễm Covid-19 và hơn 1.4 triệu người đã thiệt mạng? Các chuyên gia y tế Hoa Kỳ và thế giới đều khuyên mỗi người hãy tự thực hiện các biện pháp ngăn ngừa đại dịch bằng cách tránh đến chỗ đông người, giữ khoảng cách xã hội ít nhất 6 feet, đeo khẩu trang khi ra khỏi nhà, rửa tay thường xuyên ít nhất 20 giây đồng hồ bằng xà phòng hay nước khử trùng. Thực hiện các biện pháp này không chỉ là để bảo vệ cho bản thân mình mà còn giúp bảo vệ cho những người trong gia đình,
Với tôi, nhà thơ Du Tử Lê luôn luôn là một kho tàng bí ẩn của thi ca. Tôi nghiệm ra rằng, mỗi lần đọc anh, tôi lại thấy những cảm xúc mới. Và rất nhiều khi, phải gọi là bất khả tư nghì -- nghĩa là, thấy thơ hay mà nghĩ hoài không minh bạch và tận tường ý tứ.
“nụ cười buồn mùa hè” là một tập truyện gồm 18 truyện ngắn, tuy các truyện hư cấu, nhưng nội dung phản ánh từ bao hoàn cảnh cuộc đời mà người viết đã trải qua. Là những giấc mơ đời dở dang nhưng được trình bày như những kinh nghiệm đã hoàn tất dù ước vọng vẫn cứ tiếp tục
Ngày 11 tháng 11 năm 2020 là sinh nhật thứ 199 năm của nhà văn và triết gia người Nga Fyodor Dostoevsky [sinh ngày 11 tháng 11 năm 1821]. Các tác phẩm văn học của ông đã khám phá tâm lý con người trong bầu không khí chính trị, xã hội và tâm linh bất an của xã hội Nga vào thế kỷ thứ 19, và liên hệ tới nhiều chủ đề triết học và tôn giáo, theo www.en.wikipedia.org Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông gồm “Crime and Punishment” [Tội Ác và Hình Phạt – xuất bản năm 1866], “The Idiot” [Người Ngốc – xuất bản năm 1869], “Demons” [Ma Quỷ - xuất bản năm 1872], và “The Brothers Karamazov” [Anh Em Karamazov – xuất bản năm 1880]. Các tác phẩm của ông đã được đọc không những tại Nga mà còn khắp nơi trên thế giới và đã ảnh hưởng rất nhiều nhà văn và triết gia về sau như các nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn và Anton Chekhov, các triết gia Friedrich Nietzsche của Đức và Jean-Paul Sartre của Pháp và sự trỗi dậy của Chủ Nghĩa Hiện Sinh và Trường Phái Tâm Phân Học Freud. Các tác phẩm của ông đã được dịch
Ngày 21 tháng 11 năm 1620 hơn 130 di dân từ Anh Quốc đã vượt Đại Tây Dương đến Tân Thế Giới bằng chiếc thuyền Mayflower. Từ ngày đó đến nay, năm 2020, đã 400 năm. Trước đó, vào năm 1607, những người thực dân Anh cũng đã đến Tân Thế Giới và thành lập thuộc địa tại thành phố cổ Jamestown thuộc tiểu bang Virginia ngày nay.Đó là chưa kể đến làn sóng di dân trước đó khoảng 30,000 năm, khi những người ở cực đông bắc Châu Á đi bằng đường bộ qua ngả Alaska -- lúc đó hai đại lục Mỹ Châu và Á Châu vẫn chưa tách rời nhau vì nước biển cạn -- để rồi tràn xuống phía nam hình thành các cộng đồng người bản xứ, mà khi Columbus lần đầu tiên gặp họ ở Tân Thế Giới cứ tưởng là mình đã đến lục địa Nam và Đông Nam Á (Indies) nên gọi họ là người Indian. Vì vậy, nước Mỹ là vùng đất di dân. Không có di dân thì không có nước Mỹ. Chính di dân đã tạo ra nước Mỹ và nền văn hóa Mỹ. Nhưng ngày Lễ Tạ Ơn [Thanksgiving] có liên quan mật thiết đến những người di dân Anh đến Plymouth của Massachusetts bằng chiếc thuyền
Ni giới Việt Nam có một lịch sử truyền thừa lâu dài và đó là sự truyền thừa mang tính chính thống. Phật giáo Đại Thừa và tinh thần Bồ Tát đạo cũng thấm nhuần trong mỗi vị Ni trong bước chân hoằng hóa.
Cuốn sách ngôn từ đẹp và mạnh mẽ này thể hiện niềm tin của Barack Obama rằng, dân chủ không phải là một món quà từ trên cao rơi xuống mà là điều được hình thành dựa trên sự đồng cảm, thấu hiểu và chung tay xây dựng mỗi ngày.
Trong bài trước, khi viết cảm nhận cho thi tập “Xướng Họa Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ,” vì thời gian có hạn, nên tôi chưa kể hết về Cao Mỵ Nhân (CMN) nhà thơ tiền bối mà tôi hằng kính trọng và khâm phục. Sau khi gửi bài đăng, đọc lại tôi cứ cảm thấy còn thiêu thiếu chút gì.
Nhân loại đã biết cách bay lên mặt trăng, tuy nhiên nhiều nơi trên địa cầu vẫn còn bị ràng buộc với những thói quen xưa cổ, trong đó một thành kiến khó rời bỏ là xem nhẹ phụ nữ. Hầu hết các tôn giáo cũng xem nhẹ phụ nữ. Riêng trong Phật Giáo, phụ nữ từ xưa vẫn có một vị trí đáng kính và bình đẳng trên đường học đạo, để tận cùng là thành tựu Niết Bàn. Khi vua Pasenadi nước Kosala không vui vì hoàng hậu Mallikà sinh một bé gái, Đức Phật trong Kinh SN 3.16 dạy vua rằng: "Này Nhân chủ, ở đời / Có một số thiếu nữ / Có thể tốt đẹp hơn / So sánh với con trai / Có trí tuệ, giới đức..." Hơn hai mươi thế kỷ sau, ý thức nữ quyền mới trở thành phong trào. Theo định nghĩa cô đọng và đơn giản, nữ quyền là niềm tin vào sự bình đẳng của nữ giới với nam giới về chính trị, kinh tế và văn hóa. Do vậy thường khi, nữ quyền gắn liền với dân quyền, vì bình quyền nam nữ dẫn tới ý thức bình quyền cho từng người dân, đặc biệt là nơi các dân tộc đang bị các nước thực dân thống trị, hay nơi các sắc tộc thiểu số
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.