Hôm nay,  

Uyển ngữ

25/03/202321:43:00(Xem: 6050)
Văn hóa

poetry


Tôi báo cho bạn: HVU đã ra đi. Ông biết chưa? – Chưa, mà đi đâu?

 

Tôi ngỡ ngàng. Bạn hiểu nghĩa đen, còn tôi muốn nói ý khác. Tôi thêm: Đi xa, về bên kia thế giới. Với người khác, tôi nói: U. mất rồi. Họ hỏi lại: Mất gì?

 

Đây chỉ là cách nói nhẹ đi, thay cho lối nói có thể bị coi là sỗ sàng, làm khó chịu, xúc phạm. Tôi chỉ muốn nói từ CHẾT.

 

CHẾT là một từ có sắc thái tiêu cực, gợi lên cảm giác đau buồn, mất mát cho người nghe. Từ này cần được thay thế bằng từ khác có ý nghĩa tương tự.

 

Có thể dùng: qua đời, khuất núi, trút hơi thở cuối cùng, lên đường theo tổ tiên, về nơi tiên cảnh, nhắm mắt xuôi tay, an giấc ngàn thu, quy tiên, rời cõi tạm, thác, ra đi mãi mãi, về nơi chín suối, trở về với cát bụi, đi gặp ông bà ông vải, trở thành người thiên cổ, về cõi thiên thai, ăn xôi nghe kèn.

 

Trong ngữ cảnh nhất định, còn có thể nói: không qua khỏi (bệnh tình quá nặng, chúng tôi đã làm hết sức nhưng ông ấy không qua khỏi. Anh ấy đã hy sinh, đã không bao giờ trở về nữa.

 

Đó là những lối nói trong đời thường. Trong văn thơ cũng gặp không ít.

 

Truyện Kiều chẳng hạn:

 

Kiếp hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương. Nói về cái chết của Kiều.

 

Thuyền tình vừa ghé tới nơi, Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ.  Nói về cái chết của người kỹ nữ.

 

Rỉ rằng nhân quả dở dang, Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao. Khi báo mộng cho Kiều trong mơ lúc nàng tự tử, Đạm Tiên nói khi Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đường: Rõ ràng hoa rụng hương bay.

 

Một nhà thơ khác:

 

Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở.

 

Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê đó.

 

Nhà thơ Đinh Hùng có bài “Gửi người dưới mộ”  đầy không khí chết chóc:

 

Trời cuối thu rồi em ở đâu

Nằm bên đất lạnh chắc em sầu

Thu ơi đánh thức hồn ma dậy

Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.

 

Trong ngôn ngữ học, cách diễn đạt như thế gọi là UYỂN NGỮ, thường được định nghĩa là “phương thức nói giảm bằng cách không dùng những lối diễn đạt trực tiếp mà dưới hình thức nhẹ nhàng hơn, mềm mại hơn do những nguyên nhân về mặt phong cách. Cách nói như vậy là do nhu cầu kiêng kị, nhu cầu lịch sự, nhu cầu che đậy.

 

Đến đây, ta có thể thấy rất nhiều trường hợp đã dùng, rất tự nhiên, có khi chẳng cần biết nó gọi là gì.

 

Sau chết chóc, ốm đau bệnh tật cũng là đề tài cần dùng uyển ngữ. Trẻ bị sốt chỉ nói ấm đầu, lúc đau thì nói nhác chơi.

 

Người có H là người nhiễm HIV, người bệnh K là người bị ung thư (cancer).

 

Nói về việc bài tiết, thường dùng đi ngoài, đi cầu, đi đồng, và nơi đó gọi là nhà xí. Tiếng Anh gọi là restroom (không phải nhà nghỉ).

 

Bộ phận sinh dục của nam nữ thì gọi là cậu bé, cô bé, còn quan hệ tình dục ít ai gọi thẳng những từ tục mà chỉ nói ngủ, ăn nằm, lên giường. Tuỳ theo ngữ cảnh mà dùng. Bà vợ ghen chồng: Ông đã ngủ với bao nhiêu đứa rồi. Mẹ mắng con gái: Con đã ăn nằm với nó chưa? Còn trai gái chưa cưới hỏi gì mà đã có bầu thì nói là “ăn cơm trước kẻng”. Còn vợ chồng hợp pháp khi vợ có bầu thì nói “có tin vui”. Khi sinh đẻ thì dùng “nằm ổ”. Chỉ những cô gái mại dâm nói là gái bán hoa, gái bán phấn buôn hương, gái dứng đường. Có lối nói nữa là gái ngành.

 

Về ngoại hình, không nên chê phụ nữ béo, mập, mà nói “mũm mĩm, đầy đặn. Đàn ông thì phát tướng. Tóc bạc gọi là tóc muối tiêu, hai thứ tóc trên đầu.

 

Tất nhiên còn nhiều trường hợp khác nữa không liệt kê hết được.

 

Điều cần ghi nhận là uyển ngữ không chỉ có trong tiếng Việt. Tiếng Anh cũng có nữa. Nói về chết chóc, tiếng Anh không thiếu: Pass away, be gone, go to the Heavens, go to meet the maker, be departed, be with the Jesus, to breathe one’s last, to go to his reward, to go over the other side, gone to a better place, come to the end of the road, go to the wrong way, getting a one-way ticket, sleep away, bit the dust.

 

Tình trạng thất nghiệp (unemployment) nói trại đi là between jobs, người già, old person là senior citizen, không nhà, vô gia cư  homeless là on the streets, quan hệ tình dục (have sex) nói là the birds and the bees, contact with somebody, sleep together,  hide the sausage, go all the way.

 

Tiếng Anh còn một biện pháp rất hay nữa là sử dụng từ viết tắt (acronym):

 

WMD (weapons of mass destruction), vũ khí giết người hàng loạt, HIPC (heavily indepted poor countries) những nước nghèo đói.

 

Và trong ngôn ngữ học, biện pháp uyển ngữ trong tiếng Anh gọi là EUPHEMISM. Từ nguyên là euphemia tiếng Hy Lạp, có nghĩa là điềm lành, đây là từ ghép giữa eu (tốt, hay), và pheme (lời nói).

 

Tiếng Pháp cũng dùng từ đó, với chút khác biệt về chính tả: EUPHÉMISME.

 

Đến đây ta trở lại với khái niệm CHẾT để thấy tiếng Pháp nhiều cách nói giống tiếng Việt: N’être plus, rendre le dernier soupir, s’ éteindre, rejoimdre l’autre monde, passer l’arme à gauche, s’en aller, disparaître, partir dans un autre monde, prendre congé de la vie.

 

Nghĩa địa được gọi là le boulevard des allongés, la demeure d’éternité. Người vô gia cư là  clochard, sans abri, SDF (sans domicile fixe).

Tuổi già (vieillesse) là troisième âge, người mù (aveugle) là non- voyant, sự phá thai (avortement) gọi là interruption volontaire de grossesse.

 

Nói tóm lại, trong giao tiếp hàng ngày, hoặc trong sách báo, thường có lối nói nhẹ nhàng, có khi văn vẻ, để diễn đạt những khái niệm khác nhau, thường dễ hiểu, nhưng cũng có lúc cần có kinh nghiệm hoặc hiểu biết về văn hoá, xã hội mới biết hết ý nghĩa. Và khi hiểu được thì thật là thú vị.

 

Thêm một điều nữa cần ghi nhận là uyển ngữ có khi gần giống với ẩn dụ.

 

Ca dao có:

 

Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng nhớ thuyền.

 

để nói nỗi niềm cô gái nhớ người yêu.

 

Truyện Kiều cũng có:

 

Tiếc thay một đoá trà mi

Con ong đã tỏ đường đi lối về.

 

Dùng đoá trà mi để chỉ thân phận nàng Kiều.

 

Còn euphémisme tiếng Pháp lại gần giống một biện pháp tu từ khác là litote. Trong Le Cid, khi Chimène muốn ngỏ ý với Rodrigue rằng cô vẫn còn yêu chàng, cô nói:

 

Va, je ne te hais point. 

 

Nghĩ cho cùng, văn chương chữ nghĩa thật muôn màu muôn vẻ. Vậy nên mới hấp dẫn bao nhiêu người.

 

– Thân Trọng Sơn

 

 

Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.