Hôm nay,  

Đuôi Tóc Bím

09/08/202400:00:00(Xem: 3026)
ScreenHunter 73
Mẹ tôi, sinh nhật nào cũng bốn cây bạch lạp thắp sáng, năm nào bà cũng bốn mươi tuổi, không già hơn. Sinh nhật năm nay cũng vậy. Đàn cháu hát hăm hở Happy Birthday mừng bà nội. Mừng điều gì, tôi không biết. Sống lâu? Bà gần như không bao giờ chết. Xinh đẹp? Bà có bao giờ thay đổi đâu. Khỏe mạnh? Bà sẽ không bao giờ bệnh. Có lẽ con gái tôi biết được điều gì tôi không biết. “Chúc bà nội năm nay có tình yêu.” Cả đám con cháu cười vang kèm theo  tiếng vỗ tay. Mẹ cười âu yếm. Trong căn phòng khách này, tôi là người già nhất và là người lạc hậu nhất.
Mẹ tôi qua đời năm bốn mươi tuổi vì bệnh ung thư ngực. Lúc đó, tôi chỉ mới lên bảy, chị tôi lên mười. Nghe người ta than thở về hoàn cảnh mồ côi mẹ, nhưng tôi không biết có mẹ là như thế nào trong lúc lớn lên. Hai chị em tôi mọc cao như cây bỏ thí ngoài vũ trụ.

Sáng, chim đồn nhau, cha đi tù vì chống chế độ thống trị, hôm qua ông bị bắt ở hành tinh X152. Đêm, chim báo tin cha vượt ngục bị bắn hạ, xác mất tích tan vào không gian. Gió khuya khoắt lò qua cửa gương vỡ nhẹ nhàng như bàn tay thân thiết vỗ về tôi dù bàn tay lạnh lẽo. Chị ôm tôi thì thầm, “Mai em muốn ăn rễ sắn hay rễ mì?” “Ăn ễnh ương nướng, em bắt cho.” Sau đó, nghe chị lầm bầm giống như đang nói chuyện với ai rất sụt sùi. Không có mẹ là như vậy sao?

Mẹ tôi có mái tóc dài đen nhánh phủ đến bờ mông. Mái tóc bà đẹp nhất phố. Cha tôi nói, mỗi khi mẹ xoay người trong gió mạnh, một màn tóc đen bay rợp mê hồn. Khi biết mình không còn sống bao lâu nữa, bà đã nhờ dì tôi đến cắt mái tóc, bện thành một đuôi bím, đưa cho cha để làm di vật. Khúc tóc này thấm trộn biết bao là nước mắt của mẹ, của dì, của cha, của chị và của tôi.

Cha trao bím tóc cho chị trước khi đi theo cách mạng. Chị trao bím tóc cho tôi trước khi qua đời. Tôi săn sóc bím, mỗi đầu tháng tẩm một chút dầu cho khỏi khô khan, tẩm một chút trầm hương, vừa thơm vừa trừ mối mọt. Rồi con gái tôi xin cắt một chút ở đuôi bím. “Con muốn nghiên cứu tóc bà nội. Có một dự án mới về DNA nơi trung tâm khoa học nhân sinh, còn đang thử nghiệm, con sẽ đưa tóc bà nội vào kế hoạch thử tóc.”  

Mẹ rất mơ hồ trong trí nhớ, tôi chỉ có thể hình dung bà qua tấm hình điện tử mà cha tôi để lại. Nhưng bím tóc luôn luôn làm tôi xúc động. Thực sự đang cầm một phần thân thể của mẹ. Đưa lên mũi hít vào thật sâu, không biết mùi nào là mùi của mẹ.   

Con nhớ, hôm đó, sinh nhật con, mẹ dẫn ra phố. Không đủ tiền, chỉ mua được một cái bánh kem nhỏ. Mẹ dặn, phải ăn hết trước khi về đến nhà. Có mẹ có phải là như vậy không?

Con nhớ ám ảnh, một lần con bị sốt nặng, chập chờn tỉnh mê. Nghe mẹ khóc. Nghe bác sĩ đặt ống thở, robot chích thuốc. Cảm giác đau nhức, mơ màng, tối tăm, hực lửa. Con thiếp đi rồi nghe mẹ khóc rất lớn, con mở mắt, nắm tay mẹ. Mẹ bật cười nước mắt còn chảy, như bà Sáu khùng vừa tỉnh cơn điên. Có mẹ có phải là như vậy không?

Tết năm 2050, bước vào tuổi bảy mươi, con cháu mừng thọ lớn, tặng tôi món quà kinh ngạc quá sức tưởng tượng. Vẫn giữ tập tục lì xì, sau khi chúc tết, tôi bấm cho mỗi đứa một khoảng tiền chạy thẳng vào trương mục. Tôi đứng lên chuẩn bị khai mạc bàn tiệc. Bỗng dưng đám con cháu kéo đến sắp hàng trước mặt chận tôi lại. Bắt ngồi xuống. Thằng cháu ngoại lớn nhất đại diện nói tiếng Việt rất dở, tôi không thực sự hiểu, nhưng ông ngoại cứ khuyến khích, vỗ tay.  

Hàng ngũ chen lấn trước mặt đột nhiên mở ra ở giữa và thấy mẹ tôi đứng đó. Cảm giác tê người, đờ đẫn. Một khoảnh khắc trống rỗng mênh mông, đóng băng, tê liệt hơi thở. Rồi ập xuống cơn mưa xối xả từ đôi mắt.
 
Ngu Yên
 
 

Trước đây vài năm, nghe Thư trở bệnh, tôi có viết một bài, ấy là tình bạn, dù xa cách nhau nhưng đều còn chân đi trên mặt đất. Nay Thư đi thật rồi, xin gởi một nén nhang từ biệt. Trước khi viết tiếp, tôi thử gõ vào AI, anh thầy Mo này có nhận xét về nhà thơ họ Phạm như sau: “Phạm Thiên Thư là một hiện tượng khá đặc biệt của thi ca Việt Nam hiện đại. Ở ông có sự hòa quyện hiếm thấy giữa chất lãng mạn của thơ tình và chiều sâu thiền học của Phật giáo. Chính điều đó làm cho thơ ông mang vẻ “nửa đời nửa đạo” — vừa gần gũi, mộng mơ, vừa phảng phất suy tư siêu thoát.
Có một thứ mệt mỏi sâu hơn mọi thứ mệt mỏi khác: mệt vì phải sống giữa những điều chưa ngã ngũ. Con người chịu được nghèo đói, chia lìa, chiến tranh, lưu đày. Nhưng lại không chịu đựng nỗi một câu hỏi chưa có lời giải đáp, một khoảng trống chưa được lấp, một sự thật còn đang mở. Người ta không quen với sự bỏ ngỏ. Muốn một kết luận. Một nguyên nhân. Một thủ phạm. Một giải đáp. Một nhãn hiệu dán lên mọi sự, để từ đó có thể yên tâm mà đi tiếp. Vì vậy người ta yêu ý kiến. Cầm nó trên tay như cầm một ngọn đèn. Nhưng lắm khi ngọn đèn ấy không soi sáng được gì. Nó chỉ vẽ ra một vòng sáng nhỏ quanh chân ta, rồi khiến ta tưởng vòng sáng ấy là cả thế giới.
“Nếu bạn còn có thể yêu, hết lần này đến lần khác,” Henry Miller viết, khi đứng bên kia sườn dốc của tuổi tám mươi, “nếu bạn còn biết tha thứ, biết quên, nếu bạn không để mình hóa chua, hóa gắt, hóa cay nghiệt, hoài nghi…thì bạn đã nắm được quá nửa bí mật của đời sống.” Bảy năm trước đó, Bertrand Russell — triết gia lớn của Anh, nhà toán học, sử gia, và giải Nobel — cũng dừng lại ở chính câu hỏi ấy, vào cùng một chặng cuối của đời người. Trong một tiểu luận ngắn, nhan đề Nghệ Thuật Già Đi, viết ở tuổi tám mươi mốt, ông suy tưởng về cách một con người có thể đi trọn hành trình của mình.
Không ai có thể xây cho bạn cây cầu để băng qua dòng sông đời sống. Cây cầu ấy, hoặc do chính bạn dựng, hoặc không có gì cả. Nietzsche viết như vậy khi ba mươi tuổi. Hơn một thế kỷ sau, Seamus Heaney — nhà thơ đoạt Nobel — dặn người trẻ: con đường thật để đi vào và đi qua kinh nghiệm là con đường trung thành với nỗi cô đơn của riêng bạn, với thứ tri thức thầm kín chỉ bạn nghe được tiếng mình trong đó.
Trong trả lời phỏng vấn của tạp chí mạng Da Màu về chuyện “Đọc và Viết & về Văn học Hải ngoại” (28 & 29.8.2025), Bùi Vĩnh Phúc chia sẻ anh yêu sách từ nhỏ nên đã để dành tiền mua sách và đọc đủ thứ. Bên cạnh đó, anh còn đổi sách, báo với bạn bè trong xóm... Hoặc “cất giữ làm của riêng” những báo hoặc tập san có đi thơ, truyện mà anh thích từ “kho” báo chí trong nhà của bố. Khoảng lớp Đệ Ngũ (lớp 8 bây giờ), bằng tiền bố mẹ cho, anh “nướng” hết vào các tiệm bán sách cũ hoặc bán solde (có những quyển rất hay và còn mới) để có một thư viện cho riêng mình. Càng lớn, anh lại càng có thêm điều kiện để thu thập sách mới, sách hay với các thể loại khác nhau. Kể từ năm Đệ Nhị (lớp 11 sau này), anh hướng về đọc sách phi-hư cấu đủ mọi thể loại. Đến thời thanh niên, Bùi Vĩnh Phúc tìm đọc nhiều sách nghiên cứu và phê bình.
Theo thông tấn Polskie Radio S.A. của Ba Lan, hôm Thứ Hai, ngày 4 tháng 5, 2026, Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026 đã được trao cho Ana Blandiana, nữ thi sĩ người Romania. Ana Blandiana – một nữ thi sĩ kiêm nhà bất đồng chính kiến chống cộng người Romania – đã giành chiến thắng tại Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026; giải thưởng này được đặt theo tên của một trong những thi sĩ vĩ đại nhất của Ba Lan trong thế kỷ 20. Sinh năm 1982, nhà thơ Blandiana (tên khai sinh là Otilia Valeria Coman) là đại diện tiêu biểu cho nhóm được gọi là "tân hiện đại chủ nghĩa" (neo-modernists) – một thế hệ thi sĩ xuất hiện vào thập niên 1960, những người đã khước từ học thuyết về nghệ thuật vô sản (proletarian art) và tìm kiếm nguồn cảm hứng từ truyền thống văn học của thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến.
Nó đứng ở cuối hành lang. Lối đi dài, đèn neon trắng, cửa đóng kín hai bên. Nó quay lưng lại, người nhỏ xíu trong bộ đồ rộng thùng thình. Tôi gọi, nhưng không nghe được tiếng mình. Nó lầm lũi bước đi chân không. Một cánh cửa mở ra. Bàn tay to kéo nó vào. Cửa khép chặt lại. Tôi chạy. Tôi gào. Tôi đập cửa. Không động tĩnh. Một cánh cửa khác mở ra. Nó đứng đó, im lặng. Quần lót mặc ngược. Cúi xuống kéo quần lại, rồi nó đứng yên như trời trồng. Vết đỏ trong quần lót loang ra. Tôi lao tới. Không chạm được nó. Một đứa lớn hơn đứng phía sau con bé. Không rõ mặt. Chỉ là chiếc bóng đổ dài lên tường. Tôi hét to. Nó không quay lại.
Theo nhà xuất bản, Kaho là lần đầu tiên một nhân vật nữ đơn độc giữ vai trò trung tâm trong một tiểu thuyết dài của Murakami – chi tiết đặc biệt đáng chú ý nếu đặt trong bối cảnh những phê bình nữ quyền lâu nay dành cho thế giới sáng tác của ông, cũng như các phát biểu trước đây của chính Murakami về cách ông xây dựng nhân vật nữ.
“Tôi mong người đọc có thể thấy hay cảm nhận được cái sức sống đẹp tươi và đầy màu sắc của một vùng trời đất hoa cỏ quê hương, nói riêng, và của cõi sống văn chương con người, nói chung. Cái cõi sống ấy, người viết và người đọc, ở nơi nào và thời nào, tôi tin, cũng đều muốn hướng đến. Trong đó, tất cả – người viết và người đọc, cái viết và cái đọc, cái được viết và cái được đọc – đều hạnh phúc quây quần và ca hát hạnh ngộ cùng nhau.” -- BVP
Trước khi trở thành một tiểu thuyết gia lừng danh, Toni Morrison vốn là một nhà giáo. Sinh năm 1931 tại Lorain, tiểu bang Ohio, bà theo học tại Howard University rồi Cornell University, sau đó trở lại Howard để giảng dạy Anh văn từ năm 1957. Chính từ môi trường học thuật ấy, một phần căn bản trong đời văn của Morrison đã được hình thành: tinh thần khảo sát, đối chiếu và chất vấn cách văn chương Hoa Kỳ nhìn nhận người da đen. Từ một cô giáo trẻ, Morrison dần bước sang đời sống xuất bản, trước hết bằng công việc biên tập, rồi bằng sáng tác tiểu thuyết. Bà trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên giữ một chức vụ biên tập tại Random House, sau đó đoạt giải Pulitzer năm 1988 với Beloved và giải Nobel Văn chương năm 1993. Khi bà qua đời năm 2019, di sản của bà đã vượt khỏi khuôn khổ tiểu thuyết để trở thành một phần quan trọng của văn học Mỹ hiện đại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.