Hôm nay,  

‘Ăn Chay’ Với Yeong-hye

22/11/202400:00:00(Xem: 3623)

Capture
 
Tôi bước lên chuyến xe buýt, đúng với tuyến đường Han Kang đã chỉ cho In-hye, chị Yeong-hye đi. Núi Chuk-sung hôm nay không ẩm ướt. Những gốc cây to không mang vẻ “run rẩy trong mưa.” Ngược lại, nó trầm mặc, bất động, vì hôm nay trời không mưa gió.
 
Bệnh viện nơi Yeong-hye trú ngụ hiện ra giữa những con núi. Ngôi nhà trắng toát, nhỏ bé lọt thỏm giữa thiên nhiên. Thần núi, thần rừng bao quanh, sẵn sàng che chở những linh hồn đi lạc. Nơi này, Yeong-hye và nhiều người khác nữa, tách biệt khỏi thế giới bên ngoài. Họ sống đúng với bản năng cây cỏ, hào phóng cho mầm sống vươn ra từ bất cứ nơi nào trên cơ thể mình. Nơi này, không ai cần hiểu vì sao “đứa trẻ bé như thế… lúc mới sinh ra ai cũng thế này à?” Nơi này, không có những ánh mắt ái ngại, tò mò nhìn vào hai đầu nhọn nổi lên phía trước ngực Yeong-hye. Nơi này không phải là nơi cho loài người sống cuộc đời cam chịu như chị của Yeong-hye, “rời khỏi nhà từ năm 19 cuổi, một thân một mình không nhờ vả bất cứ ai để bươn chải cuộc sống ở Seoul” hoặc luôn phải “nấu canh giải rượu cho bố.” Nơi này, càng không phải dành cho những người chọn nắm đấm để giải quyết vấn đề như bố của Yeong-hye.
 
Yeong-hye đang trồng cây chuối. Chị của Yeong-hye đã báo trước em mình muốn trở thành một cái cây – cái cây nở hoa, tự mình vươn lên đón ánh nắng. “Cây Pháo Hoa”, vùng đất Yeong-hye đang ở là không gian ngập tràn ánh sáng, chứ không u ám, sợ hãi, vương vãi máu và lãnh cảm như nơi cô từng sống với người chồng cũ và trở thành “Người Ăn Chay” chỉ sau một đêm; cũng không có những cảm xúc vừa bản năng vừa vô hồn từ “Vết Chàm Mongolia.”
 
Tôi bước đến, ngồi xuống bên cạnh Yeong-hye, chậm rãi nói:
 
-          Yeong-hye, tôi biết giấc mơ đó.
 
-          Đã nằm mơ à?
 
Yeong-hye hỏi, vẫn giữ tư thế trồng chuối.
 
Tôi lắc đầu, lẩm bẩm:
 
-          Chị ấy nằm mơ. Trước mặt chị ấy là một tô phở nóng. Trong tô đầy thịt, nhưng là thịt người. Rồi chị ấy ăn chay, từ một tháng nay.
 
Yeong-hye bật người lại, ánh mắt hoàn toàn không cảm xúc, ánh mắt khô như vỏ cây cổ thụ.
 
-          Đừng ăn. Không thích ăn. Ghét ăn. Tại sao phải ăn.
 
Tôi nhìn Yeong-hye bước đến cạnh cửa sổ. Cô rướn cơ thể gầy gò ra ngoài ô cửa, ngửa mặt lên trời cho ánh nắng hắt thẳng vào. Đôi mắt Yeong-hye vẫn mở to nhất định không nhắm lại vì cái chói chang của tia mặt trời. Những cây cổ thụ cao to bên ngoài cũng thế. Chúng nó không phải nhắm mắt. Một trong những nguyên tắc sinh tồn của cây là luôn tìm ánh nắng để nghiêng về. Yeong-hye cũng thế.
 
Nhưng những người trong gia đình của cô không biết điều đó. Họ không biết Yeong-hye cần gì, dù đó là khi cô chọn im lặng hoặc đã phải gào lên kháng cự bằng máu trong thanh quản.
 
Tôi muốn nhìn thẳng Yeong-hye, để hiểu vì sao người phụ nữ kia nằm mơ, rồi ăn chay, nhưng gương mặt không giống với Yeong-hye của Han Kang trong “Vết Chàm Mongolia”? Han Kang kể, Yeong-hye đã vượt thoát cùng với vết chàm định mệnh ấy, là một đứa trẻ ngây thơ hồn nhiên, sống hoàn toàn ngoài vòng vẫn đục.
 
Nụ cười của cô trong vắt, thiêng liêng, đối lập hoàn toàn với những tiếng kêu thất thanh cắt da cắt thị của “Người Ăn Chay” và ‘Vết Chàm Mongolia.”
 
Đến cả những dòng nước trong cơ thể cô khi tuôn ra cũng bất cần phải có nhục cảm bản năng con người.
 
Từ khi Yeong-hye vào bệnh viện, những người từng ảnh hưởng đến cuộc đời cô đều biến mất như chưa từng xuất hiện. Han Kang không cho họ vào thăm, dù là máu mủ. Dù vết chàm Mongolia vẫn còn đó nhưng những bông hoa nở chung quanh nó đã tàn lụi. Những bông hoa chỉ có một đời.
 
Mỗi một mình In-hye, chị của Yeong-hye bên cạnh, với sứ mệnh là đẩy ra hết những bi kịch gia đình đã che dấu suốt mấy chục năm qua. In-hye không lãnh phần bi kịch thay cho Yeong-hye, mà chính là Yeong-hye giúp chị phải đẩy ra hết những phần đã chết trong nửa phần đời trước, và chấp nhận bi kịch trong nửa phần đời còn lại.
 
“Mỗi lần giặt chiếc quần đẫm máu không hiểu vì lý do gì mà cô cứ liên tưởng tới hình ảnhdòng máu ở cổ tay Yeong-hye phụt ra cách đó mấy tháng. Sợ đi đến bệnh viện nên cứ ngày nàyqua ngày khác lần lữa việc đi khám…”
 
Nỗi sợ hãi và sức chịu đựng bám lấy gia đình của Yeong-hye, lâu ngày hóa thành rễ, thành những mảnh xù xì chai cứng theo thời gian. Mỗi người họ có cách ứng phó với bi kịch đó. Bố của Yeong-hye chọn rượu. Mẹ Yeong-hye chọn căn bếp. Em trai Yeong-hye chọn cách ra đường đánh lại người khác sau mỗi trận đòn của bố. Yeong-hye chọn cách nài nỉ chị “đừng trở về nơi đó nữa”. In-hye chọn sự cam chịu. Yeong-hye lấy chồng, đơn giản như cách cô cởi bỏ một nút áo ngực và mặc kệ ánh nhìn soi mói của thế gian. 
 
Những phẫn uất tiềm ẩn mãi mãi không hiện sinh nếu Yeong-hye không mơ thấy giấc mơ đó – giấc mơ không ai biết. Nhưng đó là giấc mơ có thực. Vì nó đã lột trần ra hết sự ích kỷ của những người ruột thịt, những người cùng chăn gối khi đối đãi với nhau. Nó chứng minh tình yêu vợ chồng, tình yêu gia đình mà Yeong-hye đang sống chỉ là sự trói buộc sở thích, cảm xúc của nhau. Ở nơi đó, In-hye, Yeong-hye, và cả những người chồng của họ, không có quyền sống thật với chính mình. Tất cả những gì trái ngược với cách con người tồn tại trong thế gian này đều là bất bình thường, đều không có quyền.
 
Tôi bước đến gần Yeong-hye, tự hỏi khi đã vào đây, cô sẽ được quyền không ăn?
 
Không. Tôi đã lầm.
 
Han Kang kể, bị kịch cuối cùng của Yeong-hye là “không được quyền chết!”
 
Người ta vẫn buộc cô phải truyền dịch để sống. Phản kháng cuối cùng khi sức tàn lực kiệt của Yeong-hye là máu trào ra từ phổi, từ tim, từ nội tạng. Và họ lại chuyển viện cho cô để cô “được sống.”
 
Tôi tạm biệt Yeong-hye. Con đường quanh co núi Chuk-sung dẫn ra ngoài đầy mùi cây cỏ. Tôi chợt hiểu tại sao Yeong-hye luôn ao ước hóa thành cây cổ thụ kia. Vì cây to chỉ cần ánh nắng để sinh tồn. Khi gió thổi, những cành và tán lá của nó vẫy gọi nhau.
 
“Chị, tất cả cây cối trên đời này hình như đều là anh em của nhau.”
 
Khi trời ngừng gió, chúng nó cùng im lặng tuyệt đối, tận hưởng thế giới riêng của mình. Không làm đau đớn nhau. Không nhìn nhau bằng những ánh nhìn dò xét nghi kỵ.
 
Rồi Yeong-hye có thành cái cây đó không? Không biết. Han Kang chỉ nói rằng, cả In-hye lẫn Yeong-hye đều không biết “khi nào sẽ tỉnh lại.”
 
“Trong mơ, cứ tưởng như đó là tất cả sự thật. Nhưng khi tỉnh dậy sẽ biết là không phải... thế cho nên, đến lúc nào đó chúng mình cũng tỉnh lại, khi đó…”
 
Và tôi cũng chợt hiểu, vì sao gương mặt của người phụ nữ ăn chay vì nằm mơ thấy một tô phở đầy thịt người không có những khoảnh khắc giống với gương mặt trẻ thơ, vô hồn của Yeong-hye.
 
Vì Yeong-hye phải tiếp tục kháng cự và chịu đựng!
 
Kalynh Ngô
   

Phân lý chữ nghĩa Bùi Giáng là việc làm nghiêm túc một cách khôi hài. Phê bình thơ Bùi Giáng là khôi hài một cách nghiêm túc. Tôi chú ý đến hai đối cực hài hòa này vì càng suy nghĩ, càng lý luận, thì càng cảm nhận chất khôi hài trong thơ Bùi Giáng là một đặc sản. Thưởng thức thơ Bùi Giáng, trước hết là thú vị với cách thế đùa nghịch chữ nghĩa và tứ thơ của ông, tiếp theo là những ngạc nhiên về chất lượng ngộ nghĩnh và biến hóa trong ý nghĩ, tư tưởng của Bùi Giáng một cách sâu sắc và sự sâu sắc này mang đến lòng ngưỡng mộ, vì sự sâu sắc này mà chúng ta cần phải nghiêm túc.Trước Bùi Giáng có rất nhiều nhà thơ làm thơ hài hước nổi danh như Tú Xương, và các ông tú sau này. Hầu hết các nhà thơ thành danh đều có thơ hài hước, như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, vân vân. Tuy nhiên, gần như những hài hước đó luôn kèm theo sự mỉa mai, nụ cười xách mé, mỉm cười khinh bỉ, nín cười che miệng, cười lớn chế nhạo. Trong khi chất khôi hài của Bùi Giáng qua thơ chỉ tạo ra nụ cười hoặc tức cười.
Văn học về sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết là một chủ đề cần thiết cho nhà văn sáng tác tác phẩm hư cấu bằng tiếng việt. Những nhà văn không học tập theo lề lối chính quy thường tự tin vào khả năng sáng tạo bẩm sinh và khả năng thu thập kinh nghiệm, gọi là “khiếu”, để trở thành nhà văn tự nhiên, cũng đôi khi là nhà văn bỗng nhiên. Những nhà văn được huấn luyện từ trường ốc, nếu không thường xuyên cập nhật văn học sáng tác đương đại, sẽ lỗi thời. Những nhà văn nổi bật trong lịch sử văn chương, thông thường là những người có khả năng tự học rất cao. Song song với sáng tác, họ là những nhà văn học lỗi lạc, cho dù, có thể họ không viết một điều gì về nghiên cứu phê bình. Tôi không phải là người có “khiếu” văn chương cao, cũng không thông qua quá trình học viện hoặc trường lớp sáng tác, chỉ có ý thích tìm hiểu văn học và thử nghiệm những gì đã nghiên cứu. [Không phải là lời khiêm nhường mà là lời trung thực.] Và “Nhận Thức Bảy T” là một phần góp nhặt mà tôi đã kinh qua.
Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.
126 câu thơ 7 chữ, xứng đáng gọi bài thơ này là một trường ca. Một trong vài bài thơ dài được phân tích và phê bình nhiều lần bởi một số nhà phê bình chuyên và nhiều nhà bàn thơ tản mạn mang tính nghiệp dư. Hầu hết là khen ngợi sau khi giải thích những ý nghĩ tương đối dễ nắm bắt và những ngụ ý, ẩn dụ quen thuộc tạo nên sự dễ dàng cảm nhận. Đó là bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên. Nếu là một bài thơ có giá trị thật hoặc có giá trị bị hoài nghi thì công việc phân tích phê bình bài thơ đó sẽ được tiếp tục qua nhiều thế hệ, ví dụ như chúng ta tiếp tục tìm hiểu và phê phán “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm, hoặc cao hơn là “Kiều” của Nguyễn Du.
... Tôi cảm thấy may mắn vì tôi vẫn có thể kết nối với tổ tiên tôi qua tiếng nói. Nó giúp tôi vững tin hơn vào giá trị những gì tôi hằng tin tưởng và đam mê theo đuổi. Nó phả sức sống vào một người viết lưu vong, cô đơn, tại một bàn viết lữ thứ, cách xa quê hương cả một đại dương rộng lớn...
Khi viết, cô ở trong cơ thể mình, không thể phản bác lại điều đó. Nhưng làm sao giải thích được đồng thới cô cũng ở một nơi khác? Khi viết, cứ như thể cô đang làm việc từ độ cao sáu inch phía trên và ngay trước đầu mình. Nếu năng lượng viết rơi trở lại cơ thể, mọi thứ viết lách đều dừng lại.
Đời Phi Công là truyện vừa, 54 trang, gồm 9 chương. Theo lời tác giả: “Một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời”. Phượng cô em hàng xóm ông dạy kèm ở Hà Nội từ hồi nhỏ. Đầu lá thư ông chỉ viết “Phượng”, trong thư có thêm “Phượng em”!
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.
Trong một tiểu luận về văn chương Franz Kafka, Milan Kundera đã bắt đầu bằng một câu chuyện có thật xảy ra trên xứ Tiệp Khắc, quê hương ông, dưới thời đảng Cộng sản còn cai trị đất nước này. Một anh kỹ sư được mời sang thủ đô London, Anh quốc để tham dự một hội nghị chuyên ngành. Hôm trở về nhà vào văn phòng làm việc, anh lật tờ báo mới phát hành sáng hôm đó và đã giật bắn người vì trên báo loan tin một kỹ sư người Tiệp sang London dự hội nghị đã xin tị nạn chính trị ở lại Tây phương. Nên nhớ đó là cao điểm căng thẳng của cuộc Chiến tranh Lạnh toàn cầu, đối với các quốc gia trong khối Cộng sản, tị nạn chính trị có nghĩa là phản quốc, là trọng tội mang án tử hình. Anh kỹ sư nọ đã vô cùng hoảng hốt khi đọc bản tin trên báo.
Khi một tác giả hoàn tất xong một bản thảo của một tác phẩm mới, câu hỏi đầu tiên có lẽ tác giả sẽ tự nêu lên rằng: ai sẽ đọc những dòng chữ này của mình? Hẳn là Thầy Tuệ Sỹ cũng có suy nghĩ như thế khi hoàn tất bản thảo tác phẩm “Lý Hạ: Bàn Tay Của Quỷ” vào ngày 19/1/1975. Xin chú ý con số rất tiền định: 1975. Người viết đã hình dung ra hình ảnh Thầy Tuệ Sỹ đứng nơi Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh nhìn ra sân trường, khi Thầy vừa hoàn tất tác phẩm trên khoảng gần nửa thế kỷ trước. Thầy Tuệ Sỹ đã suy nghĩ gì khi cất bản thảo trên vào một góc kệ sách và rồi đời Thầy sẽ không còn thì giờ để mở ra xem nữa? Những gì đời sau biết về nhà thơ Lý Hạ của Trung Hoa không nhiều như các nhà thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Lý Thương Ẩn... Nhà thơ Lý Hạ tuổi thọ chỉ khoảng 25 hoặc 26 hoặc 27 tuổi. Năm sinh của Lý Hạ mơ hồ: tiểu sử trên Wikipedia ghi rằng họ Lý sinh năm 790 hoặc 791.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.