Hôm nay,  

Cái tên Khánh Trường!

02/01/202509:03:00(Xem: 4408)
Tưởng niệm Khánh Trường

KTrg
Từ trái: Trần Yên Hòa, Khánh Trường, Thành Tôn.

Thật ra, trước 1975, tôi cũng đã đọc nhiều sách, nhiều tạp san văn học ở Sài Gòn, (hay tỉnh lẻ), tôi chưa đọc đến tên Khánh trường, biết tên Khánh Trường. Tên đó (hay bút danh đó) hoàn toàn xa lạ đối với tôi.

Cho đến, đầu năm 1995, tôi sang Mỹ. Qua Mỹ chân ướt chân ráo, còn lạ lẫm đủ thứ, may nhờ anh Ngô Kỷ, một người học trò cũ của tôi (tôi dạy kèm Ngô Kỷ, nên tạm gọi vậy), dẫn dắt và giới thiệu tôi vào làm công cho một nhà in trên đường Bolsa, gần Bưu Điện Bolsa...Công việc là làm lặc vặc đủ mọi chuyện, nghĩa là đụng đâu làm đó, sai đâu làm đó...Tôi quên tên nhà in nhưng nhớ chủ nhà in tên là Phú.

Đây là nhà in in tạp chí Hợp Lưu...Những lúc rảnh rổi (chút xíu), tôi có đọc "ké" Hợp Lưu mới được in ra. Phải nói là tôi rất thích. Đó là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với văn học hải ngoại. Qua Hợp Lưu, tôi biết người chủ trương Hợp Lưu là Khánh Trường.

Thường, Khánh Trường ra nhận Hợp Lưu khi vừa in xong, rồi chở trên một chiếc xe truck. Biết vậy, nên tôi tới gặp Khánh Trường và nhờ anh cho biết địa chỉ của nhà văn Trần Hoài Thư, người thầy dạy cũ của tôi. Khánh Trường về nhà và ghi địa chỉ của thầy Trần Hoài Thư đem ra cho tôi. Nhờ vậy tôi đã liên lạc lại được với người thầy mà tôi quý mến.

Đọc "ké" mấy tập Hợp Lưu, rất hay, văn hay, thơ hay, biên khảo hay, nhưng (lúc đó) tôi vẫn thấy có một điều gì gợn gợn trong tôi, có một vài ý kiến bất đồng. Nghĩa là, tôi mới ở VN sang, sau 20 năm sống trên đất nước VN cộng sản. Dĩ nhiên tôi không quên được những ngày tù khổ sai, làm việc cưỡng bách trong các trại cải tạo. Nay mới được nhìn lại lá cờ vàng ba sọc đỏ đến ứa nước mắt...Thế mà hợp lưu (với cờ đỏ sao vàng) sao được đây hở trời! Cho nên tôi cảm thấy rờn rợn, gai góc đầy mình là vậy...

*

Cái tên Khánh Trường, theo Khánh Trường nói sau này, lúc anh sinh ra,  cha mẹ anh đang tản cư ở xã Trường Xuân, làng Khánh Thọ, huyện Tam Kỳ, Quảng Nam. Anh sinh ra ở địa phương này,  nên cha mẹ anh đặt tên anh là Khánh Trường (Khánh Thọ, Trường Xuân)...Cùng huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với tôi, nên sau này quen nhau, tôi thường nhân đó mà nhận Khánh Trường là đồng hương, dù Khánh Trường ít khi nhắc tới quê của mình, nói rằng lớn lên anh đi cùng nơi chi xứ.

Theo tôi, Khánh Trường thành danh ở hội họa nhiều hơn ở văn học (văn, thơ). Tranh anh có màu sắc, có bố cục, nhất là những tranh  về thiền...Xem tranh của Khánh Trường tuy không hiểu nhiều nhưng mình tự thấy như đang ở một thế giới nhẹ tênh...

Và nữa, Khánh Trường làm chủ biên tạp chí Hợp Lưu rất xuất sắc, anh biết chọn bài hay, trình bày sách đẹp và lôi kéo được một số nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo cộng tác có giá trị, có cả những nhà văn, nhà phê bình nỗi  tiếng ở trong nước cộng tác. Đó cũng là một thành công.

Nhiều khi cái thành công đó, khiến Khánh Trường có vẻ cao ngạo, ngông nghênh...Dù tôi biết trước bảy lăm, anh chỉ là một người lính nhảy dù (không là sĩ quan) và tôi tự lý luận, là lính trơn nên Khánh Trường chắc cũng không có bằng cấp gì về văn hóa, (chứ có tú tài 1 đã đi sĩ quan rồi). Nên khi có chút tiếng tăm về hội họa, văn học Khánh Trường  có sự cao ngạo, ngông nghênh, đó có phải để khỏa lấp chuyện đi "lính trơn" của mình không?

Một vài kỷ niệm

Không nhớ vào năm nào, tháng nào, hình như khoảng 2012..., nhà thơ Thái Tú Hạp & Ái Cầm tổ chức Ra Mắt Sách cho các tác giả: nhà thơ Hoàng Lộc, nhà văn Lâm Chương,  nhà thơ Phan Xuân Sinh, nhà thơ Đức Phổ tại Little Sài Gòn. Các tác giả ở các tiểu bang thật xa về đây Ra Mắt Sách...Buổi Ra Mắt Sách rất vui, tạm coi như thành công.

Tôi thấy đây là dịp rất hiếm để các anh em văn nghệ gặp nhau. Ở chỗ Ra Mắt Sách thì đông người, nên không nói chuyện được nhiều... Tôi bèn có nhã ý mời các bạn văn đến nhà tôi nhậu chơi một bữa. Tôi ngõ ý với nhà thơ Thành Tôn, anh đồng ý, nên buổi chiều hôm sau đó, tại nhà tôi có mặt nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, Phùng Nguyễn, Thành Tôn, Khánh Trường, Hà Nguyên Du, Lâm Chương, Phan Xuân Sinh, Đức Phổ...(hình như có thêm Đặng Hiền, Nguyễn Nam An, và cô Thúy Vân Nguyễn Thị Mắt Nâu)... thiếu Hoàng Lộc vì Hoàng Lộc bận với người yêu thơ anh..

Đây là lần đầu tiên ngồi nhậu với Khánh Trường. Khánh Trường lúc này còn khỏe, da dẽ hồng hào...uống rượu rất bạo.

Lúc này Hà Nguyên Du in một tập thơ, có nhờ Khánh Trường vẽ bìa. Khánh Trường có một tranh mẫu bìa đã gởi cho cô Bích Xuân tại Pháp, làm bìa tập thơ của cô. Nhân chuyện gấp gáp nên Khánh Trường gởi tranh bìa này cho Hà Nguyên Du làm bìa luôn tập thơ của HND. Không biết do đâu mà Hà Nguyên Du biết tranh bìa tập thơ của mình trùng với bìa với một cuốn sách của Bích Xuân, Hà Nguyên Du đem chuyện này ra phàn nàn (lèng èng) với Khánh Trường và anh em trong chiếu rượu. Khánh Trường đang hơi men nên đã tức khí ném cái ly rượu đang uống vào mặt Hà Nguyên Du. May mà chiếc ly đi chệch đích.

Chuyện sau đó trở thành không vui, Phùng Nguyễn phải chở anh Nguyễn Xuân Hoàng ra phi trường để về San Jose, và mọi anh em có mặt đều buồn, từ từ lục tục ra về.

Nghe nói sau vụ đó, Khánh Trường về bị trock...Thời gian sau anh nằm trong một nursinghome, tôi có đến thăm...

*

Sau này có nhiều dịp tôi gặp Khánh Trường. Tôi đến nhà Khánh Trường nhờ anh cho mượn tranh để triển lãm trong Ngày Họp Mặt Liên Trường Quảng Nam Đà Nẵng và Ngày Họp Mặt cựu học sinh trung học Trần Cao Vân Tam kỳ. Mỗi lần đến nhà anh mượn tranh,  Khánh Trường và chị Oanh đều nhiệt tình cho mượn (...kể các các họa sĩ Hồ Thành Đức, Nguyễn Đình Thuần cũng vậy).

Đó cũng là một kỷ niệm rất đẹp.

Bây giờ thì các anh Nguyễn Xuân Hoàng, Phùng Nguyễn, Phan Xuân Sinh đã mất, nay đến lượt Khánh Trường...Thật buồn thay!

Nhớ lắm Khánh Trường ơi!
Chúc bạn  ra đi thanh thản!
 

-- Trần Yên Hòa

Anaheim, 28-12-2024

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.