Hôm nay,  

Ở Lại Với Niềm Kinh Ngạc

19/06/202600:00:00(Xem: 448)

come to earth

If You Come to Earth, Sophie Blackall, thư viện public library.

 
Có những điều càng cũ càng cần được nhắc lại. Như một tiếng chuông xưa trong một ngôi chùa vắng, mỗi lần gió đi qua lại ngân lên, không phải để báo một giờ khắc mới, mà để nhắc ta rằng ta vẫn còn có thể nghe.

Đời sống, tự nó, chưa bao giờ nghèo. Chỉ có con mắt người nhiều khi hóa nghèo đi. Chỉ có lòng người, qua năm tháng, đánh rơi khả năng cúi xuống trước một chiếc lá, dừng lại trước một cánh bướm, ngước lên một trời sao, và bàng hoàng thấy mình vẫn còn được sống giữa những điều không thể giải thích hết bằng tên gọi.

Cái làm cho đời sống còn đáng sống, có lẽ, chính là khả năng kinh ngạc ấy. Không phải trước những kỳ quan lẫy lừng hay những biến cố lớn lao. Kinh ngạc không cần đại lộ. Nó có thể đến từ bước chân mẹ đi làm về, dàn hoa bông giấy nở ngoài hiên, dòng nước nhỏ dưới chân cầu, tiếng nhạc Bach vọng lên trong giờ cầu nguyện, hay trong vệt nắng im trên mặt bàn.

Walt Whitman đã nhìn một ngọn cỏ và thấy trong đó công trình của những vì sao. Cái nhìn ấy, nếu gọi là thơ thì chưa đủ. Nó gần như một thứ đạo. Một cách hiện diện trước thế giới, một thái độ sống.

Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.

G.K. Chesterton từng nói đến cái “mặt trời chìm khuất của kinh ngạc” trong một bông bồ công anh. Dylan Thomas tìm thấy cứu cánh của đời sống nơi những đứa trẻ đứng nhìn sao với đôi mắt sững sờ. Rachel Carson tin rằng món quà lớn nhất cha mẹ có thể cho con cái không phải là của cải hay một tương lai sắp đặt sẵn, mà là một cảm thức kinh ngạc bền bỉ, đủ đi cùng đứa trẻ suốt cuộc đời, như một thứ thuốc giải chống lại nhàm chán, vỡ mộng, và sự khô kiệt của tâm hồn.

Goethe nói giản dị và cũng tận cùng: “Tôi có mặt ở đây để kinh ngạc.”

Hermann Hesse, từ hơn một thế kỷ trước, cũng đã đi vào miền ấy- miền của bướm, của rêu, của thủy tinh, của mây, của những bờ biển thở dài trong buổi chiều mênh mông.  Với ông, kinh ngạc không phải là một cảm xúc thoáng qua. Nó là khởi điểm của mọi minh triết. Và cũng là nơi mọi minh triết quay về.

Mọi sự bắt đầu bằng kinh ngạc. Và nếu con đường ấy cuối cùng lại đưa ta trở về với kinh ngạc, thì đó không phải là vòng tròn vô ích. Trái lại, đó là con đường duy nhất còn giữ được cho con người phần trong trẻo của mình.

Khi đứng trước một mảng rêu xanh, một đóa hoa, một con bọ vàng, một bầu trời đầy mây, một mặt biển thở chậm, hay một cánh bướm nhỏ với những đường gân mảnh như pha lê, nếu trong khoảnh khắc ấy ta thật sự mở lòng ra, thì ta được cứu.

Được cứu khỏi cái thế giới tham lam và mù lòa của nhu cầu. Khỏi thói quen chiếm hữu. Khỏi ý muốn ra lệnh. Khỏi cái bản ngã lúc nào cũng đòi đo lường, phân chia, khai thác và đặt tên, đem mọi sự cất vào ngăn kéo.

Trong khoảnh khắc kinh ngạc, con người không còn đứng riêng. Không còn là một chủ nhân trước một thế giới bị trị. Không còn là kẻ sử dụng trước những vật bị dùng. Con người, trong một chớp mắt, trở lại làm anh em với bướm, với mây, với sông, với núi, với cỏ cây, với mọi hiện hữu âm thầm đang cùng thở dưới một bầu trời.

Đó là lúc thế giới chia lìa khép lại, và thế giới nhất thể mở ra.

Cái đẹp nhất nơi Hesse nằm ở đó. Kinh ngạc không làm con người yếu đi. Nó chỉ làm con người bớt kiêu ngạo. Mà chính khi bớt kiêu ngạo, con người mới lớn lên trong một nghĩa sâu hơn. Lớn không phải để đứng cao hơn mọi vật, mà để nhận ra mình thuộc về mọi vật.

Nhưng rồi con người lớn lên, và bi kịch từ đó bắt đầu.

Đứa trẻ nào cũng sinh ra với đôi mắt biết kinh ngạc. Nó dừng lại trước một con kiến. Nó hỏi về một chiếc lá. Nó nhìn mưa như nhìn một phép lạ. Nó có thể ngồi rất lâu trước một vũng nước, một hòn đá, một con sâu đo trên bờ tường. Với nó, mọi vật không bao giờ thiếu tiếng nói riêng.

Rồi người lớn kéo nó đi.

Phải nhanh lên. Phải học. Phải thi. Phải đậu. Phải thành công. Phải trở nên hữu dụng. Phải biết tính toán. Phải biết hơn thua. Phải biết chen vào hàng ngũ những người lớn đã thôi ngạc nhiên từ lâu.

Cái mà ta gọi là giáo dục, nhiều khi, chỉ là một cách làm cho đứa trẻ mất dần đôi mắt đầu tiên của nó. Ta dạy nó đếm, nhưng không dạy nó lặng nhìn. Ta dạy nó đo, nhưng không dạy nó rung động. Ta dạy nó phân tích một bông hoa, nhưng không dạy nó yêu bông hoa. Ta dạy nó những mảnh rời của thế giới mà quên dạy nó cái toàn thể âm thầm nối kết tất cả.

Hesse đã lo âu về điều đó. Ông thấy các đại học không đưa con người vào những con đường giản dị nhất của minh triết. Thay vì nuôi dưỡng lòng kính ngưỡng, chúng rèn luyện sự khô khan. Thay vì giữ lại mê say, chúng đề cao sự tỉnh táo lạnh lùng. Thay vì mở ra cảm thức về cái toàn thể, chúng buộc học viên nắm lấy từng phần nhỏ, rời rạc, bị cắt lìa khỏi hơi thở chung của đời sống.

Những nơi ấy, ông nói, không phải là trường của minh triết. Chúng chỉ là trường của kiến thức.

Kiến thức cần thiết. Nhưng một mình nó không làm nên sự giàu có. Nó có thể lấp đầy trí óc mà bỏ trống linh hồn. Một người có thể biết tên mọi loài bướm mà chưa từng đứng lặng trước một cánh bướm. Có thể biết tuổi của các vì sao mà không còn biết ngẩng đầu nhìn trời đêm. Có thể giảng về thiên nhiên mà đã lâu không đặt tay lên vỏ một thân cây.

Giáo dục, nếu còn mang một ý nghĩa cao quý nào, phải làm nhiều hơn thế. Nó phải giữ lại trong con người khả năng bị đánh động. Khả năng thấy đời sống không phải chỉ là dữ kiện, phương tiện, lợi ích, hay vật sở hữu. Khả năng đứng trước một điều nhỏ bé và nghe trong đó tiếng gọi của vô cùng.

Trong một thời đại mọi sự đều bị cân, đếm, đổi, bán, sử dụng, tiêu thụ, kinh ngạc có lẽ là một hình thức kháng cự âm thầm. Nó không hô hào. Không tranh thắng. Không dựng sân khấu. Nó chỉ lặng lẽ trả ta về với đôi mắt ban đầu.

Hermann Hesse

Tuyển tập tản văn, truyện ngắn và thơ của Hermann Hesse Butterflies – những “vẻ đẹp phù du” gắn với suy tư của ông về vô thường, thiên nhiên và đời sống nội tâm.


Đôi mắt của đứa trẻ. Đôi mắt của thi sĩ. Đôi mắt của người còn biết mình không phải là trung tâm của vũ trụ, mà chỉ là một hơi thở nhỏ giữa muôn vàn hơi thở khác.

Và nhờ đôi mắt ấy, ta sống thêm. Không bằng những năm tháng cộng vào đời người, mà bằng một chiều sâu âm thầm mở ra trong từng khoảnh khắc. Một buổi chiều không còn chỉ là buổi chiều. Một đám mây không còn chỉ là hơi nước bay ngang qua bầu trời. Một cánh bướm không còn chỉ là một cánh bướm. Mọi thứ trở lại với vẻ lạ lùng nguyên sơ của chúng, như thể thế giới vừa được tạo dựng lại, rất khẽ, ngay trước mắt ta.

Hermann Hesse, qua một cánh bướm, đã nhắc ta về điều ấy. Rằng sống không phải chỉ là đi qua ngày tháng. Sống là còn nghe được tiếng gọi rất nhỏ của đời sống, từ một mảng rêu ướt, một vệt nắng trên tường, một dòng sông xa, một cánh hoa im lặng, một mùi hương không chờ mà đến.

Và giáo dục, nếu còn giữ được chút hương thơm cao quý nào, có lẽ không phải để chất đầy con người bằng những điều đã biết, mà để giữ cho con người khỏi nghèo đi trong khả năng kinh ngạc. Để sau tất cả những sách vở, trường lớp, danh xưng và thành tựu, con người vẫn còn có thể cúi xuống trước một chiếc lá, ngẩng lên trước một vì sao, và thấy mình không cô độc giữa trời đất này.

Nguyên Yên
Phỏng theo “How to Be More Alive: Hermann Hesse on Wonder and the Proper Aim of Education,” The Marginalian và các bài trong tuyển tập Butterflies, Hermann Hesse. 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Trước đây vài năm, nghe Thư trở bệnh, tôi có viết một bài, ấy là tình bạn, dù xa cách nhau nhưng đều còn chân đi trên mặt đất. Nay Thư đi thật rồi, xin gởi một nén nhang từ biệt. Trước khi viết tiếp, tôi thử gõ vào AI, anh thầy Mo này có nhận xét về nhà thơ họ Phạm như sau: “Phạm Thiên Thư là một hiện tượng khá đặc biệt của thi ca Việt Nam hiện đại. Ở ông có sự hòa quyện hiếm thấy giữa chất lãng mạn của thơ tình và chiều sâu thiền học của Phật giáo. Chính điều đó làm cho thơ ông mang vẻ “nửa đời nửa đạo” — vừa gần gũi, mộng mơ, vừa phảng phất suy tư siêu thoát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.