Hôm nay,  

Người Đi Xây Nhà

29/11/202514:26:00(Xem: 1435)
VVNM
Ảnh:  Bộ sách VVNM 25 cuốn (trên). Kiều Chinh, cố tác giả Trùng Quang-cũng là người để lại di chúc lập ra giải Việt Bút, và Nhã Ca (dưới, trái).  Chủ khảo Trương Ngọc Bảo Xuân, tác giả Xuân Mỹ, tác giả Nguyễn Văn Tới, tác giả Châu Hà, Nhã Ca, Trần Dạ Từ (dưới, phải).


Không phải ngẫu nhiên mà Viết Về Nước Mỹ được nhà thơ Nguyên Sa gọi là “Lịch Sử Ngàn Người Viết.” Mà nếu tính cho đến ngày hôm nay, con số “ngàn” ấy chắc đã lên tới chục ngàn, trăm ngàn. Viết Về Nước Mỹ năm nay là năm thứ 25.

Tôi chưa có cơ hội tham dự trực tiếp lễ trao giải Viết Về Nước Mỹ. Dù đã có năm ở sát cạnh, tạm gọi là “hàng xóm”, vẫn không dự được vì lý do nào đó. Thời gian không cho mình nhớ đó là lý do gì. Những bài Viết Về Nước Mỹ do người người khắp nơi, phải nói là tứ xứ, gửi về. Mỗi bài là một câu chuyện. Mỗi câu chuyện là một cuộc đời. Nghĩ thật lạ. Viết về một xứ sở, không phải nơi mình sinh ra, nhưng quá đỗi đậm đà, và cũng đầy nỗi xót xa. Viết Về Nước Mỹ đã “hô biến” nhiều tâm hồn, đã vô tình phát hiện ra các khả năng thiên phú, để họ trở thành giám khảo chủ lực cho giải thưởng những năm sau. Viết Về Nước Mỹ, đã trở thành ngôi nhà chung cho một lịch sử loạn lạc, nhiều biến động; một bảo tàng chứng tích cho những cuộc bể dâu qua nửa thể kỷ; một khúc ca bi hùng cho những cuộc đời đã vươn lên vì sự kiên cường và lòng trắc ẩn.

Hai mươi lăm năm ấy, người đã đặt viên gạch đầu tiên cho Viết Về Nước Mỹ, vợ chồng nhà thơ, nhà văn Trần Dạ Từ–Nhã Ca, gọi đó là chặng đường đi xây ngôi nhà mới.

Một đêm mùa Hè 2025 ở Thụy Điển, ông bà đã nhắc đến Viết Về Nước Mỹ.

“Mình đã bỏ hết tất cả ở Việt Nam rồi, thì khi sang đây, mình gầy dựng lại, phải làm điều gì có nghĩa và lợi ích chung. Cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế, bà đã dùng một phần số tiền đó để trùng tu lại trường Đồng Khánh, trường thư viện. Một phần thì gửi cho trường Đại Học Y Khoa của Huế, mỗi năm họ có giải thưởng cho luận án của sinh viên. Làm được vài năm cho đến 1975 mất nước.”

Gần nửa thế kỷ sau, không phải trùng tu trường Đồng Khánh, không phải giải thưởng cho luận án ưu tú, thì cũng nhất định là một giải thưởng viết lách cho tất cả những ai muốn tham gia và xứng đáng.


Khi ông bà đặt chân đến Mỹ, nếu số phận không đưa bà vào con đường báo chí, thì bà sẽ còn nhiều tác phẩm khác. “Vì báo chí đưa chúng ta vào một con đường mà nó làm loãng cái đầu mình đi. Khi mình sống trong nước thì mình như cái cây trồng dưới đất. Cây trong đất có đầy đủ mọi thứ từ phân bón, thiên nhiên. Khi rời quê hương, mình chỉ là một chậu cây, mình bị trồng trong chậu, hạn chế mọi thứ, ngày càng thu lại.”

Cái cây trong chậu cũng có cách vươn lên để tô điểm cho một không gian khiêm tốn nhưng ý nghĩa.

“Có những lúc cũng chán nản lắm. Nhưng mình phải vươn lên, mình không thể gục ngã. Nghĩ như vậy mà ông bà quyết tâm làm tờ báo. Tự nó nuôi nó nên nhiều khó khăn lắm. Bao lần bị đạp ngã, xô dập, lại đứng gượng dậy, bởi nếu gục là thua luôn. Mình đứng dậy, từng bước một. Khó lắm. Nhưng ông ấy giỏi lắm, lì lợm lắm.”

Người đàn ông “lì lợm” ấy mỉm cười. Nụ cười thảnh thơi, hồn nhiên của một người đã chứng kiến một quê hương đổ nát, đã bị tù đày, và đã sống thật trọn vẹn với món nợ chữ nghĩa. Ông nói, to, rõ:

“Năm 17 tuổi với năm nay khác nhau nhiều. Những điều chúng ta thấy năm 17 tuổi khác năm 37 tuổi, 57 tuổi. Nhưng gọi là khác thôi, chứ nó cũng như nước sông chảy. Con sông thì vẫn vậy. Thời gian thì thay đổi.”

Tuổi tác là thế hệ. Con sông là chữ nghĩa. Ông, bà, và tất cả những người đặt tên trong Viết Về Nước Mỹ đã trôi trên cùng một dòng sông đó. Năm này qua năm khác. Họ cùng một ý thức giữ gìn, lưu lại những câu chuyện đời mình, để cùng khóc, cùng cười, cùng yêu Tiếng Việt, cùng biết ơn và cùng trả ơn.

Từ tờ báo, ông bà đào tạo nên những lớp trẻ. “Họ giỏi lắm. Bà rất vui. Ông bà đã xây một ngôi nhà mới. Lớn hơn.” Ngôi nhà đó chính là Viết Về Nước Mỹ.

Thời gian thay đổi. Nước sông vẫn trôi. Viết Về Nước Mỹ vẫn mỗi ngày thêm tên, thêm trang vào chương sử ngàn người viết.

Tôi chưa có duyên tham dự lễ trao giải Viết Về Nước Mỹ, nhưng may mắn có duyên lành, ngồi trò chuyện với ông bà – những người đi xây nhà – một đêm mùa Hè ở Thụy Điển.

Ngày mai, tại thủ phủ của người Việt tị nạn, chương trình trao giải thưởng Viết Về Nước Mỹ năm thứ 25 sẽ diễn ra. Từ Thụy Điển, kiến trúc sư trưởng của ngôi nhà ấy chắc chắn sẽ dõi theo với tất cả mọi người, tại kênh truyền hình trực tiếp SBTN, hoặc tại đây:

https://www.youtube.com/live/lOemSv5Qq7g

Kalynh Ngô

Văn học về sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết là một chủ đề cần thiết cho nhà văn sáng tác tác phẩm hư cấu bằng tiếng việt. Những nhà văn không học tập theo lề lối chính quy thường tự tin vào khả năng sáng tạo bẩm sinh và khả năng thu thập kinh nghiệm, gọi là “khiếu”, để trở thành nhà văn tự nhiên, cũng đôi khi là nhà văn bỗng nhiên. Những nhà văn được huấn luyện từ trường ốc, nếu không thường xuyên cập nhật văn học sáng tác đương đại, sẽ lỗi thời. Những nhà văn nổi bật trong lịch sử văn chương, thông thường là những người có khả năng tự học rất cao. Song song với sáng tác, họ là những nhà văn học lỗi lạc, cho dù, có thể họ không viết một điều gì về nghiên cứu phê bình. Tôi không phải là người có “khiếu” văn chương cao, cũng không thông qua quá trình học viện hoặc trường lớp sáng tác, chỉ có ý thích tìm hiểu văn học và thử nghiệm những gì đã nghiên cứu. [Không phải là lời khiêm nhường mà là lời trung thực.] Và “Nhận Thức Bảy T” là một phần góp nhặt mà tôi đã kinh qua.
Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.
126 câu thơ 7 chữ, xứng đáng gọi bài thơ này là một trường ca. Một trong vài bài thơ dài được phân tích và phê bình nhiều lần bởi một số nhà phê bình chuyên và nhiều nhà bàn thơ tản mạn mang tính nghiệp dư. Hầu hết là khen ngợi sau khi giải thích những ý nghĩ tương đối dễ nắm bắt và những ngụ ý, ẩn dụ quen thuộc tạo nên sự dễ dàng cảm nhận. Đó là bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên. Nếu là một bài thơ có giá trị thật hoặc có giá trị bị hoài nghi thì công việc phân tích phê bình bài thơ đó sẽ được tiếp tục qua nhiều thế hệ, ví dụ như chúng ta tiếp tục tìm hiểu và phê phán “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm, hoặc cao hơn là “Kiều” của Nguyễn Du.
... Tôi cảm thấy may mắn vì tôi vẫn có thể kết nối với tổ tiên tôi qua tiếng nói. Nó giúp tôi vững tin hơn vào giá trị những gì tôi hằng tin tưởng và đam mê theo đuổi. Nó phả sức sống vào một người viết lưu vong, cô đơn, tại một bàn viết lữ thứ, cách xa quê hương cả một đại dương rộng lớn...
Khi viết, cô ở trong cơ thể mình, không thể phản bác lại điều đó. Nhưng làm sao giải thích được đồng thới cô cũng ở một nơi khác? Khi viết, cứ như thể cô đang làm việc từ độ cao sáu inch phía trên và ngay trước đầu mình. Nếu năng lượng viết rơi trở lại cơ thể, mọi thứ viết lách đều dừng lại.
Đời Phi Công là truyện vừa, 54 trang, gồm 9 chương. Theo lời tác giả: “Một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời”. Phượng cô em hàng xóm ông dạy kèm ở Hà Nội từ hồi nhỏ. Đầu lá thư ông chỉ viết “Phượng”, trong thư có thêm “Phượng em”!
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.
Trong một tiểu luận về văn chương Franz Kafka, Milan Kundera đã bắt đầu bằng một câu chuyện có thật xảy ra trên xứ Tiệp Khắc, quê hương ông, dưới thời đảng Cộng sản còn cai trị đất nước này. Một anh kỹ sư được mời sang thủ đô London, Anh quốc để tham dự một hội nghị chuyên ngành. Hôm trở về nhà vào văn phòng làm việc, anh lật tờ báo mới phát hành sáng hôm đó và đã giật bắn người vì trên báo loan tin một kỹ sư người Tiệp sang London dự hội nghị đã xin tị nạn chính trị ở lại Tây phương. Nên nhớ đó là cao điểm căng thẳng của cuộc Chiến tranh Lạnh toàn cầu, đối với các quốc gia trong khối Cộng sản, tị nạn chính trị có nghĩa là phản quốc, là trọng tội mang án tử hình. Anh kỹ sư nọ đã vô cùng hoảng hốt khi đọc bản tin trên báo.
Khi một tác giả hoàn tất xong một bản thảo của một tác phẩm mới, câu hỏi đầu tiên có lẽ tác giả sẽ tự nêu lên rằng: ai sẽ đọc những dòng chữ này của mình? Hẳn là Thầy Tuệ Sỹ cũng có suy nghĩ như thế khi hoàn tất bản thảo tác phẩm “Lý Hạ: Bàn Tay Của Quỷ” vào ngày 19/1/1975. Xin chú ý con số rất tiền định: 1975. Người viết đã hình dung ra hình ảnh Thầy Tuệ Sỹ đứng nơi Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh nhìn ra sân trường, khi Thầy vừa hoàn tất tác phẩm trên khoảng gần nửa thế kỷ trước. Thầy Tuệ Sỹ đã suy nghĩ gì khi cất bản thảo trên vào một góc kệ sách và rồi đời Thầy sẽ không còn thì giờ để mở ra xem nữa? Những gì đời sau biết về nhà thơ Lý Hạ của Trung Hoa không nhiều như các nhà thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Lý Thương Ẩn... Nhà thơ Lý Hạ tuổi thọ chỉ khoảng 25 hoặc 26 hoặc 27 tuổi. Năm sinh của Lý Hạ mơ hồ: tiểu sử trên Wikipedia ghi rằng họ Lý sinh năm 790 hoặc 791.
Đêm sông Hậu, trăng khuyết chiếu mờ mặt sông, sóng ì ọp vỗ mạn thuyền. Đôi khi một bầy chim ăn đêm bay qua sát đầu chúng tôi, cánh chúng xòe ra trong trăng. Đôi khi những con dơi bay chập choạng trong tối như những linh hồn người chết trở lại thăm bạn cũ. Chúng tôi thì thào vào tai nhau những câu chuyện nghe được từ dân làm nghề sông nước. Có lúc sự kiểm soát không gay gắt lắm, chúng tôi được phép lên sàn thuyền ngồi hóng gió. Đôi khi một chiếc ghe nhỏ đi ngang qua, ông chủ thuyền kêu lại mua thêm thức ăn. Không khí ngày tết rộn ràng, tiếng hò trên sông, tiếng máy thuyền, tiếng mua bán nói cười ầm ĩ vọng lại từ một đời sống nửa thực nửa mơ. Một người phụ nữ ngồi trên thuyền vá lại chiếc áo rách cho chồng, như thể chị đang ngồi trong một căn bếp ở thôn xóm an bình nào đó
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.