Hôm nay,  

Tài Năng - Giới Hạn Văn Chương Việt Đương Đại

16/01/202600:00:00(Xem: 2061)

old books iStock-882141558
Nếu có ai hỏi: “Văn chương Việt còn hy vọng không?” Tôi nghĩ: có – nhưng nó sẽ không đến từ thiên tài, mà từ một cộng đồng biết nghi ngờ cả thiên tài lẫn chính mình. Ảnh: istockphoto.com
  
Dẫn: Bài viết khảo sát ngắn bản chất của “tài năng văn chương Việt đương đại” như một hiện tượng triết học–văn hóa: tồn tại, linh hoạt, nhưng tự nghi ngờ chính mình. Tác giả đề xuất khái niệm “không gian tin tưởng triết học” để chỉ nền tảng tinh thần mà văn chương Việt còn thiếu – nơi tài năng có thể phát triển như một hành động tư tưởng, chứ không chỉ như phản xạ cảm xúc. Bài viết chỉ ra sự khác biệt giữa “tài năng mô tả” và “tài năng kiến tạo,” đồng thời so sánh với các hình thái tư duy văn học của Murakami, Han Kang, và Márquez.

Kết luận: tài năng Việt không thiếu, nhưng cần một hệ triết lý mới – triết lý của mỉm cười và tự nghi ngờ – để vượt qua giới hạn cảm xúc và bước vào tự do của tư tưởng.
 
Một dân tộc có tài, nhưng không tin vào tài

Người Việt thường được khen là khéo, nhanh trí, ứng biến giỏi. Nhưng tài năng ấy nhiều khi vận hành như chiến thuật sinh tồn, không phải xung lực sáng tạo. Trong văn chương, điều này hiện ra rất rõ: các tác giả Việt thường tin vào nỗi đau hơn là vào tư tưởng. Nỗi đau dễ được đồng cảm, tư tưởng dễ bị nghi ngờ.

Vì thế, tài năng Việt giống ngọn đèn không dám mở sáng hết bóng mình. Nó sáng vừa đủ để thấy đường, nhưng không đủ để soi cái bóng đang cầm đèn. Đó là lý do, dù có nhiều nhà văn tài hoa, văn chương Việt vẫn thiếu một “không gian tin tưởng triết học” – tức niềm tin rằng viết là hành động tư tưởng, chứ không chỉ là kể chuyện hay cảm xúc.
 
Tài năng và bóng tối của thói quen

Người Việt thông minh, nhưng thông minh theo cách “tránh nạn”, ít khi “tạo lối.” Trong văn chương, thông minh ấy biến thành thói quen đẹp: câu chữ chuẩn, cảm xúc tinh, kết cấu chặt. Nhưng chính cái đẹp ấy lại làm mòn bản năng sáng tạo.

Nguyễn Huy Thiệp từng làm văn học bừng tỉnh vì dám chạm vào vùng tối đạo đức. Bảo Ninh mở ra nỗi đau chiến tranh từ chiều sâu nhân tính, không tuyên truyền. Nguyễn Ngọc Tư thì lột trần buồn thương miền Tây bằng giọng kể mảnh như khói.

Tuy vậy, ở thế hệ kế tiếp, ít ai dám “viết ngược lại chính mình.” Văn chương dần trở thành nghệ thuật duy trì, chứ không phải nghệ thuật khám phá. Cái bóng của thói quen phủ lên tài năng: người ta học cách viết hay hơn, nhưng ít người học cách nghĩ khác hơn.
 
Văn chương như nghệ thuật sinh tồn

Nếu phương Tây xem viết là chứng minh tư duy, thì người Việt xem viết là chứng minh sự tồn tại.

Văn chương trở thành một nghệ thuật sinh tồn cảm xúc. Từ Truyện Kiều đến Cánh đồng bất tận, ngôn ngữ Việt luôn run rẩy giữa đau và đẹp. Ta viết để giữ lấy mình – không để làm mới thế giới. Lão Tử từng nói: “Người khôn sống vừa đủ để không chết.” Câu ấy dường như ứng vào văn học Việt: sáng tạo vừa đủ để được yêu, không đủ để bị ghét. Vì thế, tài năng thường tự giới hạn bằng lòng với cái được gọi là “tinh tế.” Nhưng tinh tế không phải là cứu cánh – đôi khi nó chỉ là nỗi sợ bị hiểu lầm được làm bằng vàng.
 
Hình thức trỗi dậy – cái chết của tư tưởng

Bước sang thế kỷ 21, hình thức trở thành thần tượng mới. Từ hậu kỳ của thơ mới đến văn xuôi hậu hiện đại sáng tác tiếng Việt, nhiều tác giả Việt đã làm chủ kỹ thuật, nhưng đánh mất triết lý sáng tạo đằng sau nó.

Cái đẹp của ngôn ngữ được phóng đại, nhưng ý nghĩa bị thu nhỏ. Một nhà thơ trẻ có thể biết hết phép giễu nhại, nhưng không hiểu vì sao cần giễu nhại.
Hội thảo văn học 2022 (ĐH KHXH&NV) ghi nhận: “Chúng ta có nhiều tác phẩm hay về chi tiết, nhưng ít tác phẩm hay về hệ thống.” Câu này chạm đúng trung tâm: văn học Việt thiếu tầm khái niệm.

Viết “thật” vẫn chưa đủ – phải viết đến chỗ cái “thật” tự sụp đổ, như Nietzsche từng nói: “Sự thật cũng chỉ là dối trá đã được tập luyện.” Tài năng Việt hiện nay phần lớn dừng ở mỹ học của sự tự thương. Đó là khi tác giả không còn viết để hiểu thế giới, mà để xoa dịu chính mình.
 
Khi nhà văn không còn tin vào triết học.

Ngày xưa, Nguyễn Đình Thi đọc Heidegger, Chế Lan Viên đọc Nietzsche. Họ không sợ triết học – họ uống nó như rượu đắng.

Ngày nay, nhiều người viết nói về “hiện sinh,” nhưng hiếm ai đọc Being and Nothingness (Sartre, 1943).

Triết học bị xem là xa xỉ, còn văn chương trở thành người kể chuyện tử tế – một nghề hiền lành, ít nguy hiểm. Barthes (1977) từng cảnh báo: “Khi nhà văn chỉ kể, mà không phá nghĩa của chuyện, anh ta chỉ là thư ký của hiện thực.”

Giới hạn của tài năng Việt nằm đúng đó: cảm xúc dồi dào, kỹ thuật tinh vi, nhưng thiếu năng lực tự giải cấu trúc. Nhà văn hiện nay cần đọc triết không để “triết lý hóa,” mà để tập nghi ngờ chính chữ của mình. Chỉ trong nghi ngờ, chữ mới sinh ra đời sống mới.
 
So sánh và sự khác biệt cần thiết.

Murakami không hơn người Việt ở tài, mà ở niềm tin vào sự mơ hồ. Người Việt lại sợ mờ – thích sáng tỏ. Nhưng nghệ thuật lớn sinh ra từ vùng nửa sáng.
Han Kang dùng thân thể để chất vấn đạo đức; người Việt vẫn xem thân thể như ẩn dụ. Márquez dùng huyền ảo để hiểu hiện thực; người Việt dùng hiện thực để trốn huyền ảo.

Điều khác biệt không nằm ở trí tuệ, mà ở khả năng chơi với hư vô. Người Việt giỏi mô tả giấc mơ, nhưng ít khi dám ngủ trong nó. Vì thế, ta có đủ ngôn từ, nhưng thiếu sự im lặng đúng lúc; đủ nỗi đau, nhưng thiếu khái niệm về nỗi đau; đủ cảm xúc, nhưng thiếu nhịp suy tưởng.
 
Viết để nghĩ, không chỉ để kể

Nhà văn Việt viết triết học thì ít người hiểu, viết dễ hiểu thì ít người xem trọng. Nhận xét này, nửa đùa nửa thật, lột tả thế tiến thoái của tài năng Việt.

Văn chương Việt đang cần học lại cách đặt câu hỏi triết học – không phải “tôi là ai?” mà “tôi còn có thể nghĩ được điều tôi chưa hiểu không?”

Khi văn chương biết tự nghĩ, nó vượt khỏi vùng an toàn của kể chuyện. Và khi triết học học cách nói như thơ, nó chạm được trái tim của ngôn ngữ.

Văn chương và triết học Việt, suốt lâu nay, như hai người bạn ngồi ở hai quán cà phê khác nhau, cùng gọi một ly đen đá, mà không biết rằng họ đang chờ nhau. Giới hạn của tài năng Việt nằm chính ở đó: chưa tin rằng tư tưởng và cảm xúc có thể ngủ chung một giường.
 
Mỉm cười cùng vô lý

Nếu có ai hỏi: “Văn chương Việt còn hy vọng không?” Tôi nghĩ: có – nhưng nó sẽ không đến từ thiên tài, mà từ một cộng đồng biết nghi ngờ cả thiên tài lẫn chính mình.

Văn chương Việt cần học cách mỉm cười với tài năng của mình. Không phải cười chế nhạo, mà cười tỉnh thức: “Tôi thông minh, nhưng tôi biết mình đang thông minh để làm gì?”

Cái cười ấy – nửa Phật, nửa người – là triết lý mới: triết học của mỉm cười và tự thức. Khi ta thôi viết để được khen, mà bắt đầu viết để chơi cùng vô lý,
thì tài năng Việt sẽ thôi sợ bóng mình, và chữ – cuối cùng – sẽ tự tin mà hát.

Ngu Yên

Văn xuôi tốt là cửa sổ trong suốt. Từ ngữ phải vô hình, để người đọc nhìn thẳng vào hiện thực mà văn xuôi tiết lộ. Vẻ đẹp có đó, nhưng nó chỉ làm cho cửa sổ trong sáng hơn, không làm cho người đọc nhìn vào chính tấm kính. Nghi lễ của thánh lễ không phải là đức tin; nó sắp đặt các đam mê. Sự hài hòa của từ ngữ, vẻ đẹp của chúng, sự cân bằng của các cụm từ, sắp đặt các đam mê của người đọc mà anh ta không biết và sắp xếp chúng như thánh lễ, như âm nhạc, như khiêu vũ.
Tam canh ngồi niệm Phật Quan Âm | Trước mắt gương treo vừa đúng tầm | Sáng rực bên này sông Bất Nhị | Tám phương chợt hiểu Phật là Tâm
Bạn nghe một người nói, nhưng không lên tiếng, bạn suy nghĩ nhưng không bộc lộ. Bạn nén sự giận dữ xuống, bạn bôi xóa sự khinh bạc, bạn chờ cho những lời ca tụng giả dối lắng xuống, bạn giữ lại lời khen ngợi đối với một người xứng đáng thêm một ngày nữa, để nó được nung chín trong lòng.
Cầm cuốn sách mới trong tay, tôi lại nhớ có lần ở quán cafe, Trịnh Y Thư băn khoăn, không biết chúng mình in sách vào thời này có phải là chuyện vô ích không, có phải là quá mơ mộng không. Với đa số, nhất là thế hệ trẻ hơn thì có lẽ là cái gật đầu, nhưng đối với chúng tôi, chúng tôi yêu quý cái vô ích, cái mơ mộng ấy. Tôi xin chia sẻ với quý vị cảm xúc rất riêng của tôi về sách. Nếu không có sách làm sao ta có thể cầm được trên tay cái vật thể nhỏ bé này, một thành quả nhìn bắng mắt cầm bằng tay, chứa đựng trong đó những con chữ đồng hành cùng những phút giây cảm hứng. Không có sách làm sao tôi có thể cảm nhận được trọn vẹn cái sức nặng của hạnh phúc hữu hình trên trang giấy với những dòng chữ ký tặng này? Và khi đọc sách, nghe được tiếng sột soạt khi lật trang giấy, ngửi được mùi giấy mới và cả mùi hương của sáng tạo. Một khi không còn ai in sách nữa thì những tủ đựng sách đẹp đẽ sẽ là món đồ cổ chứng nhân một thời kỳ sách huy hoàng. Và nếu không có sách thì làm sao chúng có được nhữn
Một truyện ngắn kinh điển của văn hào André Maurois, qua bản dịch của nhà văn Thân Trọng Sơn.
Không phải ngẫu nhiên mà Viết Về Nước Mỹ được nhà thơ Nguyên Sa gọi là “Lịch Sử Ngàn Người Viết.” Mà nếu tính cho đến ngày hôm nay, con số “ngàn” ấy chắc đã lên tới chục ngàn, trăm ngàn. Viết Về Nước Mỹ năm nay là năm thứ 25.
Trong không gian tĩnh lặng của một buổi sớm mùa thu tại thủ phủ Sacramento. Trời đã se lạnh, gió mùa vừa sang và những cơn mưa cũng đang bắt đầu nặng hạt, con chắp tay hướng về phương trời xa, nơi pháp thân Thầy vẫn tỏa rạng giữa hư vô. Bao nhiêu lời muốn nói, rồi bỗng hóa thành im lặng, vì làm sao dùng được lời phàm để nói hết công đức, trí tuệ và từ bi của một bậc Thạc đức như Thầy, người mà bốn chúng gọi là bậc minh sư, bậc long tượng Phật Giáo Việt Nam – Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ – người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại.
Khi nói tới những dòng thơ không bao giờ chết, nơi đây chúng ta chỉ muốn nói rằng có những dòng chữ sẽ vẫn được lưu giữ trong ký ức một dân tộc, bất kể là những trận mưa bom, đạn, mìn, đại bác không ngừng bắn vào họ. Và ngay cả khi những tập thơ, các trang giấy có bị đốt ra tro, những dòng thơ đó sẽ vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời kia của một dân tộc, nếu họ còn sống sót. Chúng ta may mắn sống trong thời đại của điện thoại thông minh và Internet, nên được nhìn thấy những hình ảnh, đoạn phim, được nghe những tiếng kêu đau đớn từ dưới những đống gạch vụ, và được đọc những đoạn thơ ngắn được gửi ra rất vội từ những người sống sót sau các trận thảm sát. Thế giới này đầy những trận mưa tội ác, từ thảm sát Ukraine tới gạch vụn Gaza...
Trong dòng chảy của Văn học hải ngoại, Trịnh Y Thư là một thành phần cá biệt. Văn chương nghệ thuật với ông trước hết phải đồng nghĩa với cái Đẹp và ông đã áp dụng trong văn thơ cũng như dịch phẩm của ông...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.