Hôm nay,  

Dám “khó chịu”: Toni Morrison và cách bà thay đổi cách ta suy nghĩ

3/6/202600:00:00(View: 775)
 
Tony Morrison
Toni Morrison
 
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.

Toni Morrison đã âm thầm nắn lại cách chúng ta nghĩ về hầu như mọi thứ liên quan đến chữ nghĩa: văn chương, phê bình, chính trị, đạo lý cho đến bổn phận làm nghệ thuật. Năm 1993, bà trở thành người đàn bà da đen duy nhất cho đến nay được trao giải Nobel văn chương – một sự kiện thường được nhắc đến như một thứ huy chương danh dự. Nhưng còn một sự thật khác, ít được nói trắng ra: Morrison là một nhà văn… khó đọc. Khó cho người đọc, khó cho người dạy, và, mặc dù trên đời đã có cả một đoàn tàu dài những bài chân dung, bài điểm sách, công trình nghiên cứu dành cho bà, Morrison vẫn là một đối tượng khó viết. Hơn thế nữa, trong văn đàn da đen, bà gần như là nữ văn sĩ da đen duy nhất thật sự được đưa vào hàng “chính tông” của văn học thế giới – mà tác phẩm lại vô cùng phức tạp.

Đầu thập niên 1980, trong một bài chân dung đăng trên tạp chí Vogue, Morrison kể chuyện một độc giả than rằng ông thấy “khó hiểu quá, cái văn hóa da đen trong truyện bà – xa lạ quá với kinh nghiệm đời ông”. Morrison trả lời gọn lỏn: “Thế thì chắc anh vất vả lắm khi đọc Beowulf nhỉ!” Câu nói đùa sắc như dao cạo ấy bị người phỏng vấn hiểu sai giọng, rồi ghi chú thêm: “Morrison không có kiên nhẫn với những ai vin vào cớ mình không hiểu; vả lại, bà cũng chẳng tự hào gì về sự kiên nhẫn của mình. ‘Tôi thấy mình ngày càng khó chịu hơn,’ bà nói. ‘Mà tôi lại lấy làm thích thú nữa là khác.’” Thế là sự “khó” trong văn của Morrison liền bị diễn dịch thành một thứ “khó” trong tính tình, một tật xấu đạo đức: sao bà dám thiếu kiên nhẫn đến thế!

Một lý do khiến Morrison trong mắt thiên hạ có vẻ luôn bực bội, có lẽ là vì bà buộc phải gồng mình gánh đủ mọi vai trò cùng một lúc. Bà vừa là biên tập viên, vừa là giáo sư, vừa là nhà văn, nhà phê bình, lại vừa là một trí thức công cộng. Khi một người vươn ra nhiều nhánh như thế, rất dễ chỉ để đánh lạc chính mình khỏi cái cốt lõi, cái “nghiệp” thật sự của đời mình. Sự chuyên chú tuyệt đối vào viết lách thường bị xem là ích kỷ; ấy là chưa kể, khi người đó là đàn bà, cái tội “ích kỷ” ấy thường bị kéo xuống thêm vài bậc không chính đáng. Morrison từng nhận xét, gọn như một lời than: “Đối với đàn bà, chỉ một câu ‘Tôi là nhà văn’ cũng đã khó nói ra.”

Tuổi thơ của Morrison, nếu đem so với những câu chuyện “chính thống” về chủng tộc ở nước Mỹ, trông chẳng khác nào những bức ảnh phim âm bản. Bà kể cha mình đã mang một thứ “phòng thủ kỳ thị” rất quyết liệt, từng xô nhà chủ da trắng xuống cầu thang, chỉ vì gã này quen thói bắt nạt. Bà kể mẹ mình có thói quen kỳ lạ: cứ nhà hát bóng mới mở là bà tới mua vé, bằng mọi giá, như một cách âm thầm đòi quyền hiện diện. Và bà kể về người cố ngoại “đen thui” của mình; hôm đầu tiên nhìn thấy hai đứa cháu gái, cụ buông một câu: “Bọn nhỏ hỏng mất rồi” – ý nói về màu da: “Chúng nó không còn thuần chủng nữa.”

Song song với những trải nghiệm ấy, Morrison phải cân bằng một thứ lao động khác, vô hình hơn: công việc viết – vốn dĩ đã ít được trả công xứng đáng – lại đè trên nền lao động nội trợ không lương của một người mẹ đơn thân, nuôi hai con trai. Bà từng thở dài: “Viết lách và nuôi con cùng lúc thật vô cùng khó. Trẻ con đáng được có hết thời giờ của mình, mà mình thì không có.” Cái khó nghề nghiệp đó còn nặng thêm vì, trong mỗi lĩnh vực bà bước vào, Morrison thường là người đàn bà da đen duy nhất – và, nhiều khi, bà còn cố tình chọn cách đi một mình. Ở chỗ làm xuất bản thương mại đầu tiên, bà không thổ lộ với ai là mình đang viết tiểu thuyết; chỉ đến khi The Bluest Eye in ở một nhà in khác, đồng nghiệp mới biết bà có một đời sống văn chương riêng.

Có lẽ vì tự mình “khó chịu”, Morrison không dị ứng với sự “khó chịu” ở người khác. Trái lại, bà còn say mê khi nó xuất hiện trong tác phẩm của những nữ nghệ sĩ da đen khác. Morrison từng nâng niu, biên tập và cho in các truyện của Gayl Jones – một nhà văn mà nhiều người thời ấy xem là khó gần, khó đọc – và bà say sưa với nhạc của Mary Lou Williams, nữ nghệ sĩ piano jazz và tác giả các bản phối phức tạp, khó nghe. Trong mắt Morrison, chính cái tiếng “khó” mà người đời gán cho họ là bằng chứng: họ đã nhất quyết buộc người ta phải tiếp nhận nghệ thuật của họ như một nghệ thuật nghiêm túc.
Muốn đọc Morrison cho xứng đáng với bà, chúng ta buộc lòng phải đối diện với một mối ràng rịt – một “nút thắt” – giữa giới tính và màu da mà bà chia sẻ với những người đàn bà da đen khác trong văn chương. Nút thắt ấy không dễ gỡ. Trong một bài viết trên New York Times năm 1971 về phong trào nữ quyền, Morrison đã từng thẳng thắn viết rằng, muốn hiểu người đàn bà da đen thì phải nhìn thật gần, mà càng nhìn gần thì càng thấy công việc này “gần như tuyệt vọng”; bởi nếu có một điều chắc chắn về họ, thì chính là: họ nhất định, có chủ tâm, khước từ mọi nhãn hiệu phân loại.

Morrison vốn rất dị ứng với chuyện bị đóng khung. Bà chấp nhận những “nhãn” như da đen, đàn bà, nhà văn da đen… chỉ vì, như bà từng nói trong một bài chân dung trên The New Yorker, “làm một nhà văn đàn bà da đen không phải là đứng ở một chỗ cạn, mà là ở một vùng đất phong phú để mà viết. Nó không giam hãm trí tưởng tượng của tôi; trái lại, nó mở mang trí óc.” Bà nhiều lần phàn nàn rằng phê bình văn học chưa có đủ dụng cụ để đọc văn chương da đen. Người ta quen đọc nó như một thứ tài liệu xã hội, một bài học khoan dung, chứ không như một nghệ thuật nghiêm cẩn. “Văn chương da đen được dạy như xã hội học, như một bài học về chịu đựng, chứ không như một nghệ thuật có kỷ luật,” bà từng nói.

Nếu phải truy tìm tận gốc cái “khó” nơi Morrison, thì không thể chỉ dừng ở những lời đồn về tính khí cứng cỏi, hay ở thân phận một người vừa là phụ nữ vừa là người da đen, hoặc ở những quan điểm chính trị đôi khi gây chói tai mà bà công khai bày tỏ. Sự khó đọc của bà, căn bản, đến từ lựa chọn thẩm mỹ: Morrison chọn viết sao cho ôm hết bề rộng lẫn chiều sâu của cái mà bà gọi là “thẩm mỹ da đen”, với hình ảnh tiêu biểu là nhạc jazz. Với bà, jazz là thứ âm nhạc vô cùng tinh vi, phức tạp và khó nắm bắt; bà muốn văn chương của mình cũng dày dặn, ngân vang và nhiều tầng như thế.

Fran Lebowitz, người bạn thân của Morrison, đã phát biểu sau khi bà mất năm 2019: “Nghe có vẻ kỳ, nhưng tôi lúc nào cũng nghĩ độc giả đã đánh giá Toni chưa đủ. Người ta cứ nhìn qua lăng kính bà là người da đen, là đàn bà. Họ ít chịu để ý rằng Toni là một nhà văn thực nghiệm bậc nhất. Có biết bao điều bà đã đóng góp cho văn chương mà ít ai buồn ghi nhận.”

Đến hôm nay vẫn không thiếu người tìm cách phủ nhận vị trí của Morrison, cho rằng những lời ca tụng bà hoặc là quá lố, hoặc là hiển nhiên đến mức không còn gì để nói. Họ vịn ngay cớ ấy để khỏi phải thực sự ngồi xuống đọc tác phẩm của bà một cách nghiêm túc. Họ lầm tưởng việc Morrison có mặt trong các danh mục về ‘đa dạng – công bằng – hòa nhập’ hay trên những danh sách sách gợi ý của Oprah là bằng chứng cho thấy Toni Morrison được nâng lên vị trí hiện tại chỉ nhờ một thứ ‘cộng điểm ưu tiên’ dành cho văn chương thiểu số.

Trong hậu trường, người ta còn truyền tai nhau rằng chính một nữ tiểu thuyết gia da đen có chân trong ban tuyển chọn đã bỏ phiếu chống lại việc trao giải National Book Award cho tác phẩm Beloved vào năm 1987. Ở Harvard, một đồng nghiệp da trắng từng nói rằng anh ta thấy Beloved “ủy mị”; trong đầu anh, dường như không hề nảy ra khả năng rằng Morrison đã cố ý đi sát mép tình cảm để tạo hiệu quả. Không ít học giả da đen, đàn ông, còn đem chuyện ra đùa: có khi nào Morrison ăn cắp cốt truyện về người nữ nô lệ bỏ trốn; có khi nào tham vọng văn chương đã khiến bà thành một bà mẹ tệ bạc?
Morrison, bằng lối ấy, đã chọc giận rất nhiều kiểu người khác nhau. Sao bà lại dám vừa là một nhà văn khó đọc vừa là đàn bà da đen? Sao bà dám từ chối ve vuốt, từ chối “dịch” tác phẩm mình sang một thứ ngôn ngữ dễ nuốt hơn? Sao bà dám đòi hỏi được coi trọng? Sao bà dám là một nghệ sĩ da đen mà lại mang trong mình những ý tưởng nghiêm túc, chứ không chỉ là những kinh nghiệm “đại diện”? Sao bà dám bắt chúng ta phải đọc bà – và phải đọc theo những điều kiện do chính văn chương bà đặt ra?

Hẳn không hề dễ dàng gì để sống như Toni Morrison. Biết vậy mà không ít người vẫn thầm ước được sống, được viết, được suy nghĩ theo hướng ấy. Thèm được như bà, ung dung trong cái quyền được “khó chịu” – cái quyền không xin lỗi vì trí tuệ, vì tham vọng, vì chiều sâu đa tầng của chính mình.

Nguyên Hòa biên dịch
 
Nguồn: theo tiểu luận ‘She dared to be difficult: How Toni Morrison shaped the way we think’ của Namwali Serpell, đăng trên chuyên mục sách báo The Guardian, ngày 15.02.2026.”

Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Những suy nghĩ dưới đây như một cách tự đối thoại với câu hỏi của chính mình: tại sao “kịch văn học” gần như biến mất trong văn chương hải ngoại? Trước hết cần phân biệt kịch văn học và kịch giải trí. Kịch giải trí hướng đến tiếng cười và cảm xúc tức thời của khán giả. Nó có thể linh hoạt, ứng biến, thậm chí chấp nhận đơn giản hóa xung đột để phục vụ nhu cầu thưởng thức (ví dụ: kịch trình diễn trên Paris By Night). Kịch văn học thì khác. Nó không tìm cách làm vừa lòng người xem, mà đặt con người vào những tình huống va chạm gay gắt, buộc nhân vật phải lựa chọn, đối diện và trả giá. Ở đó, đối thoại không chỉ để kể chuyện, mà để phơi bày mâu thuẫn tinh thần, xã hội và đạo lý.
Một dân tộc có tài, nhưng không tin vào tài. Người Việt thường được khen là khéo, nhanh trí, ứng biến giỏi. Nhưng tài năng ấy nhiều khi vận hành như chiến thuật sinh tồn, không phải xung lực sáng tạo. Trong văn chương, điều này hiện ra rất rõ: các tác giả Việt thường tin vào nỗi đau hơn là vào tư tưởng. Nỗi đau dễ được đồng cảm, tư tưởng dễ bị nghi ngờ. Vì thế, tài năng Việt giống ngọn đèn không dám mở sáng hết bóng mình. Nó sáng vừa đủ để thấy đường, nhưng không đủ để soi cái bóng đang cầm đèn. Đó là lý do, dù có nhiều nhà văn tài hoa, văn chương Việt vẫn thiếu một “không gian tin tưởng triết học” – tức niềm tin rằng viết là hành động tư tưởng, chứ không chỉ là kể chuyện hay cảm xúc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.