Hôm nay,  

Chỉ Là Giấc Mơ Có Thật

01/05/202607:52:14(Xem: 332)

Giấc mơ
Minh họa: AI.
1.
Nó đứng ở cuối hành lang.

Lối đi dài, đèn neon trắng, cửa đóng kín hai bên. Nó quay lưng lại, người nhỏ xíu trong bộ đồ rộng thùng thình. Tôi gọi, nhưng không nghe được tiếng mình.

Nó lầm lũi bước đi chân không.

Một cánh cửa mở ra. Bàn tay to kéo nó vào. Cửa khép chặt lại.

Tôi chạy. Tôi gào. Tôi đập cửa. Không động tĩnh.

Một cánh cửa khác mở ra. Nó đứng đó, im lặng. Quần lót mặc ngược. Cúi xuống kéo quần lại, rồi nó đứng yên như trời trồng. Vết đỏ trong quần lót loang ra.

Tôi lao tới. Không chạm được nó.

Một đứa lớn hơn đứng phía sau con bé. Không rõ mặt. Chỉ là chiếc bóng đổ dài lên tường. Tôi hét to. Nó không quay lại.

Đèn chớp tắt.

Nó nằm bất động trên một cái giường kim loại. Người ta chiếu đèn thẳng vào mặt nó. Chung quanh là những bàn tay đeo găng và tiếng thì thầm. Không ai nhìn nó.

Nó nhìn lên trần, miệng mấp máy không ra tiếng.

Dãy hành lang hun hút lại hiện ra. Nó ngồi một mình ôm đầu gối. Chung quanh vẫn là những cánh cửa đóng kín.

Tôi đứng bên kia lớp kính. Tôi gõ. Tôi gọi. Tôi gào. Không ai nghe.

Con bé ngước lên. Mắt nó mở to nhưng không nhận ra tôi.

Đèn tắt. Tôi tỉnh dậy người ướt đẫm.
 
2.

McALLEN, Texas (ngày 6-4-2026)* — Một gia đình vừa nộp đơn kiện  chính quyền liên bang vì bé gái di dân ba tuổi bị xâm hại tình dục. Chuyện này diễn ra trong thời gian em bị giam giữ nhiều tháng trong hệ thống liên bang.

Bé gái cùng mẹ vượt biên gần El Paso vào ngày 16-9-2025 và bị tách khỏi mẹ sau khi người mẹ bị truy tố tội khai man di trú. Đứa bé được chuyển giao cho Văn phòng Tái định cư Người tị nạn (Office of Refugee Resettlement – ORR). Em được đưa vào một cơ sở nuôi dưỡng tại Harlingen. Người cha của em là thường trú nhân hợp pháp tại Hoa Kỳ đã nộp đơn xin bảo lãnh nhận con về.

Trong khoảng nửa năm, hồ sơ bảo lãnh nuôi con của người cha kéo dài qua nhiều thủ tục. Sau khi lấy dấu tay, điều tra lý lịch, thăm nhà, xét nghiệm DNA, ông vẫn không có ngày hẹn rõ ràng. Hai cha con vẫn không được đoàn tụ. Theo đơn kiện, trong thời gian đó, bé gái cho biết đã nhiều lần bị một trẻ lớn hơn sống chung trong cơ sở nuôi dưỡng xâm hại. Em bị chảy máu, một nhân viên chăm sóc phát hiện ra sự bất thường khi thấy bé mặc quần lót ngược, báo cáo lên cấp trên. ORR sau đó cho giám định y khoa và phỏng vấn chuyên môn. Đứa trẻ bị cáo buộc xâm hại được chuyển sang một cơ sở khác.

Theo luật sư Lauren Fisher Flores đại diện cho gia đình, người cha chỉ được thông báo mơ hồ rằng con gái ông gặp “tai nạn” và mọi chuyện đang được điều tra. Ông không được cung cấp chi tiết về cáo buộc xâm hại. Chỉ sau khi nhóm luật sư gửi thư chính thức và nộp đơn ‘habeas corpus’ khẩn cấp, ORR mới hoàn tất thủ tục và trao trả bé gái về cho cha em, hai ngày sau khi đơn được nộp.

Trường hợp này là một trong những ví dụ cho tình trạng giam giữ trẻ em di dân kéo dài dưới các quy định mới của chính quyền Tổng thống Donald Trump. Nhiều tổ chức bảo vệ quyền trẻ em phải nhờ đến tòa án liên bang để buộc chính phủ Trump trao trả các em về cho gia đình.
 
3.

Người đàn bà giật mình mở mắt.

Trần nhà trắng quen thuộc. Vách tường quen thuộc. Mùi chăn gối, mùi máy lạnh, mùi một căn nhà Mỹ tươm tất ở Cali. Mọi thứ đều quen thuộc. Chỉ có tim bà đập mạnh.

Sang phòng bên cạnh, trên bức tường cạnh giường là bức tranh cô bé với chiếc khăn quàng đỏ, giỏ bánh trên tay, chân bước trên con đường nhỏ xuyên rừng. Xa xa là mái nhà bà ngoại có khói bay lên. Con sói – nếu có – đã được ông họa sĩ bỏ lại ngoài khung theo đơn đặt hàng của bà.

Con Tí nằm ngay dưới bức tranh ấy. Nó nghiêng mặt vào tường, tay ôm con gấu nhồi bông bà ngoại cho hôm sinh nhật. Con bé thở đều, bình an, như mọi đứa trẻ khác được ngủ yên trong nhà mình.

Người đàn bà ngồi nhìn nó một lát, rồi bước ra phòng khách.

Tờ Việt Báo nằm choán nửa cái bàn, mở ra trang tin nước Mỹ với hàng chữ to đậm: “Bé gái 3 tuổi bị xâm hại tình dục trong nhiều tháng bị giam tại cơ sở liên bang Texas”.

Bà thở phào, giấc mơ vừa rồi hóa ra là một ám ảnh có thật. Bà cầm tờ báo lên, gấp lại đúng chỗ hàng tựa đen rồi úp xuống mặt bàn, như thể đậy cho kín một cái hũ khó ngửi.

Tim còn đập nhanh. “Cái ông này đọc chi mấy tờ báo chuyên rước chuyện dữ về nhà,” bà lầm bầm, “báo gì toàn chuyện xấu xí, độc hại...”

Hít đầy hơi vào lồng ngực, bà liếc vào phòng ngủ một lần nữa. Con Tí của bà vẫn nằm yên dưới bức tranh cổ tích, không biết đâu là biên giới, đâu là trại giam di trú. Với con Tí, nước Mỹ là hình ảnh cây xanh và con đường dẫn tới nhà bà ngoại. Bà sẽ không để đám con cái dân tị nạn kinh tế kia làm bẩn giấc mơ trong lành của nó.

Bà quay lại bàn, lấy cây bút nguệch một chữ to bên mép trang nhất tờ báo: “Làm ơn gọi hủy dịch vụ giao báo ngay”. Đợi khi trời sáng, bà nhất định sẽ nói với ông: thôi, đã quá đủ rồi.

Nếu đã không đuổi hết được lũ sói ngoài đời, thì ít ra bà sẽ không trả tiền mời chúng vào nhà, ngồi chễm chệ trên bàn ăn, rồi còn vô lễ xú uế cả giấc mơ Mỹ Quốc của gia đình bà.

 Nguyên Yên
*Bản tin ở đoạn 2 là bản tin thật. 

“Làm nghệ sĩ là một lời cam kết với đồng loại rằng những vết rách của kiếp sống sẽ không biến ta thành kẻ sát nhân,” Louise Bourgeois từng viết trong nhật ký thuở thiếu thời. “Những kẻ làm thơ — tôi muốn nói: mọi nghệ sĩ — rốt cuộc là những kẻ duy nhất biết sự thật về chúng ta,” James Baldwin từng viết ở tuổi ba mươi, “…không phải binh lính, càng không phải chính khách… chỉ có thi sĩ.” Và sự thật ấy, cách ta yêu, cách ta cho đi, và cách ta chịu đựng –là chính bản thể của ta.
Tờ Việt Báo Kinh Tế số 28 ngày 13 tháng 2 năm 1993 có đăng bài thơ “Lửa, Thấy Từ Stockholm” của nhà thơ Trần Dạ Từ, nhân tuần lễ nhà văn Thảo Trường thoát khỏi nhà tù lớn đến định cư ở Hoa Kỳ. Đây là bài thơ Trần Dạ Từ viết từ 1989 rời Việt Nam, khi được các bạn Văn Bút Thụy Điển mời ăn cơm chiều, Ông nhớ đến bạn còn ở trong tù khổ sai dưới chân núi Mây Tào, Hàm Tân. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta chào đón nhà văn Thảo Trường đến Hoa Kỳ, 15 năm kể từ ngày Thảo Trường từ bỏ thế gian, Chiều Chủ Nhật tuần này, 22 tháng Sáu, nhân dịp tái xuất bản bốn cuốn sách của Thảo Trường (Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng; Người Khách Lạ Trên Quê Hương; Ngọn Đèn; Lá Xanh), bạn bè văn hữu và gia đình cùng tề tựu tưởng nhớ Nhà Văn. Việt Báo trân trọng mời độc giả cùng đọc, cùng nhớ nhà văn lớn của chúng ta, một thời, một đời.
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Theo một ý nghĩa nào đó, Farrington đóng vai trò là một kiểu người có thể thay thế hoặc tồn tại ở bất cứ đâu, có thể là một nhân vật đặc trưng nào đó nhưng cũng có thể là một người bình thường. Bằng cách chọn chủ thể như thế, Joyce đưa Farrington vào bối cảnh đường phố Dublin và gợi ý rằng sự tàn bạo của gã không có gì là bất thường. (Lời người dịch).
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.