Hôm nay,  

Chỉ Là Giấc Mơ Có Thật

01/05/202607:52:14(Xem: 327)

Giấc mơ
Minh họa: AI.
1.
Nó đứng ở cuối hành lang.

Lối đi dài, đèn neon trắng, cửa đóng kín hai bên. Nó quay lưng lại, người nhỏ xíu trong bộ đồ rộng thùng thình. Tôi gọi, nhưng không nghe được tiếng mình.

Nó lầm lũi bước đi chân không.

Một cánh cửa mở ra. Bàn tay to kéo nó vào. Cửa khép chặt lại.

Tôi chạy. Tôi gào. Tôi đập cửa. Không động tĩnh.

Một cánh cửa khác mở ra. Nó đứng đó, im lặng. Quần lót mặc ngược. Cúi xuống kéo quần lại, rồi nó đứng yên như trời trồng. Vết đỏ trong quần lót loang ra.

Tôi lao tới. Không chạm được nó.

Một đứa lớn hơn đứng phía sau con bé. Không rõ mặt. Chỉ là chiếc bóng đổ dài lên tường. Tôi hét to. Nó không quay lại.

Đèn chớp tắt.

Nó nằm bất động trên một cái giường kim loại. Người ta chiếu đèn thẳng vào mặt nó. Chung quanh là những bàn tay đeo găng và tiếng thì thầm. Không ai nhìn nó.

Nó nhìn lên trần, miệng mấp máy không ra tiếng.

Dãy hành lang hun hút lại hiện ra. Nó ngồi một mình ôm đầu gối. Chung quanh vẫn là những cánh cửa đóng kín.

Tôi đứng bên kia lớp kính. Tôi gõ. Tôi gọi. Tôi gào. Không ai nghe.

Con bé ngước lên. Mắt nó mở to nhưng không nhận ra tôi.

Đèn tắt. Tôi tỉnh dậy người ướt đẫm.
 
2.

McALLEN, Texas (ngày 6-4-2026)* — Một gia đình vừa nộp đơn kiện  chính quyền liên bang vì bé gái di dân ba tuổi bị xâm hại tình dục. Chuyện này diễn ra trong thời gian em bị giam giữ nhiều tháng trong hệ thống liên bang.

Bé gái cùng mẹ vượt biên gần El Paso vào ngày 16-9-2025 và bị tách khỏi mẹ sau khi người mẹ bị truy tố tội khai man di trú. Đứa bé được chuyển giao cho Văn phòng Tái định cư Người tị nạn (Office of Refugee Resettlement – ORR). Em được đưa vào một cơ sở nuôi dưỡng tại Harlingen. Người cha của em là thường trú nhân hợp pháp tại Hoa Kỳ đã nộp đơn xin bảo lãnh nhận con về.

Trong khoảng nửa năm, hồ sơ bảo lãnh nuôi con của người cha kéo dài qua nhiều thủ tục. Sau khi lấy dấu tay, điều tra lý lịch, thăm nhà, xét nghiệm DNA, ông vẫn không có ngày hẹn rõ ràng. Hai cha con vẫn không được đoàn tụ. Theo đơn kiện, trong thời gian đó, bé gái cho biết đã nhiều lần bị một trẻ lớn hơn sống chung trong cơ sở nuôi dưỡng xâm hại. Em bị chảy máu, một nhân viên chăm sóc phát hiện ra sự bất thường khi thấy bé mặc quần lót ngược, báo cáo lên cấp trên. ORR sau đó cho giám định y khoa và phỏng vấn chuyên môn. Đứa trẻ bị cáo buộc xâm hại được chuyển sang một cơ sở khác.

Theo luật sư Lauren Fisher Flores đại diện cho gia đình, người cha chỉ được thông báo mơ hồ rằng con gái ông gặp “tai nạn” và mọi chuyện đang được điều tra. Ông không được cung cấp chi tiết về cáo buộc xâm hại. Chỉ sau khi nhóm luật sư gửi thư chính thức và nộp đơn ‘habeas corpus’ khẩn cấp, ORR mới hoàn tất thủ tục và trao trả bé gái về cho cha em, hai ngày sau khi đơn được nộp.

Trường hợp này là một trong những ví dụ cho tình trạng giam giữ trẻ em di dân kéo dài dưới các quy định mới của chính quyền Tổng thống Donald Trump. Nhiều tổ chức bảo vệ quyền trẻ em phải nhờ đến tòa án liên bang để buộc chính phủ Trump trao trả các em về cho gia đình.
 
3.

Người đàn bà giật mình mở mắt.

Trần nhà trắng quen thuộc. Vách tường quen thuộc. Mùi chăn gối, mùi máy lạnh, mùi một căn nhà Mỹ tươm tất ở Cali. Mọi thứ đều quen thuộc. Chỉ có tim bà đập mạnh.

Sang phòng bên cạnh, trên bức tường cạnh giường là bức tranh cô bé với chiếc khăn quàng đỏ, giỏ bánh trên tay, chân bước trên con đường nhỏ xuyên rừng. Xa xa là mái nhà bà ngoại có khói bay lên. Con sói – nếu có – đã được ông họa sĩ bỏ lại ngoài khung theo đơn đặt hàng của bà.

Con Tí nằm ngay dưới bức tranh ấy. Nó nghiêng mặt vào tường, tay ôm con gấu nhồi bông bà ngoại cho hôm sinh nhật. Con bé thở đều, bình an, như mọi đứa trẻ khác được ngủ yên trong nhà mình.

Người đàn bà ngồi nhìn nó một lát, rồi bước ra phòng khách.

Tờ Việt Báo nằm choán nửa cái bàn, mở ra trang tin nước Mỹ với hàng chữ to đậm: “Bé gái 3 tuổi bị xâm hại tình dục trong nhiều tháng bị giam tại cơ sở liên bang Texas”.

Bà thở phào, giấc mơ vừa rồi hóa ra là một ám ảnh có thật. Bà cầm tờ báo lên, gấp lại đúng chỗ hàng tựa đen rồi úp xuống mặt bàn, như thể đậy cho kín một cái hũ khó ngửi.

Tim còn đập nhanh. “Cái ông này đọc chi mấy tờ báo chuyên rước chuyện dữ về nhà,” bà lầm bầm, “báo gì toàn chuyện xấu xí, độc hại...”

Hít đầy hơi vào lồng ngực, bà liếc vào phòng ngủ một lần nữa. Con Tí của bà vẫn nằm yên dưới bức tranh cổ tích, không biết đâu là biên giới, đâu là trại giam di trú. Với con Tí, nước Mỹ là hình ảnh cây xanh và con đường dẫn tới nhà bà ngoại. Bà sẽ không để đám con cái dân tị nạn kinh tế kia làm bẩn giấc mơ trong lành của nó.

Bà quay lại bàn, lấy cây bút nguệch một chữ to bên mép trang nhất tờ báo: “Làm ơn gọi hủy dịch vụ giao báo ngay”. Đợi khi trời sáng, bà nhất định sẽ nói với ông: thôi, đã quá đủ rồi.

Nếu đã không đuổi hết được lũ sói ngoài đời, thì ít ra bà sẽ không trả tiền mời chúng vào nhà, ngồi chễm chệ trên bàn ăn, rồi còn vô lễ xú uế cả giấc mơ Mỹ Quốc của gia đình bà.

 Nguyên Yên
*Bản tin ở đoạn 2 là bản tin thật. 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.