Hôm nay,  

Bóng Tròn: Khi Chạy Theo Banh Là Hạnh Phúc

7/3/202600:00:00(View: 257)
 
GettyImages-2283650727
Jordan Gặp Argentina: Bảng J – FIFA World Cup 2026 - ARLINGTON, TEXAS – 27 Tháng Sáu: Lionel Messi, số 10 của đội tuyển Argentina, ăn mừng sau khi ghi bàn thắng thứ ba cho đội nhà trong trận Argentina gặp Jordan, Bảng J FIFA World Cup 2026, tại Sân Dallas, ngày 27 Tháng Sáu, 2026, ở Arlington, Texas. Ảnh: David Ramos/Getty Images.
 
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè.

Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.

Tôi học chơi bóng tròn từ thời trung học cơ sở, chữ xưa gọi là trung học đệ nhất cấp. Tôi nghĩ rằng đó là cơ may rất đẹp và nhiều kỷ niệm, khi một đứa học trò như tôi từ trường Trần Lục ở Sài Gòn được tập ở sân Hoa Lư vào một giờ nào đó vào cuối tuần, theo vị thầy thể dục thể thao ấn định khung giờ trước. Trong những buổi tập đó, thường là từ 7 giờ sáng tới 9 giờ sáng, nếu tôi nhớ không nhầm, cha tôi đánh thức tôi lúc 4 giờ sáng, lấy xe Mobylette, một loại xe hai bánh xưa cổ chạy xăng, chở tôi ra một quán cà phê của người Hoa ở góc đường Lê Văn Duyệt (bây giờ đổi tên thành Cách Mạng Tháng 8) và Tô Hiến Thành (không rõ đổi tên gì) ngồi một chặp, để ba uống ly cà phê và hút xong điếu thuốc, và để tôi ăn xong một cái bánh bao, rồi mới chở tôi tới sân Hoa Lư, nơi theo tôi nhớ là cách Sở  Thú (Thảo Cầm Viên) khoảng 5 hay 7 đoạn đường. Một thời gian sau, ba mua cho tôi cái xe đạp. Từ đó, tôi phải tự tới trường. Nhưng mê bóng tròn vẫn là mê không rời.

Có khi bọn học trò rủ nhau đá banh, mê quá, quên cả trời đất. Lúc đó, thỉnh thoảng, tôi làm thơ lục bát (hồi đó, đệ lục, tức là lớp 7 bây giờ, là phải học làm thơ). Trong đó, có mấy dòng, nhớ mang máng, có chữ vương vướng âm vận, bây giờ chỉnh lại, như sau.

Banh lăn qua cỏ sân trường
Làm cho thằng nhóc mê hồn chạy theo
Đá cho chiều vướng trăng treo
Đá cho nắng sớm cũng trèo vô xem
Pele tới ngó ngoài hiên
Hú trong giấc ngủ nửa đêm tưng bừng.

Tôi nhớ những buổi sáng ở sân Hoa Lư, nhiều nhóm học trò từ nhiều trường và nhiều lớp khác nhau chia ra các nơi trên sân cỏ để tập. Hơi sương buổi sáng sớm mang hơi mát ngấm vào người, chạy một chặp thì hơi nóng khắp người. Nhưng cũng nơi sân cỏ, nhiều tháng sau, tôi nhận ra mình không có năng khiếu về bóng tròn, và tự biết có tập cỡ nào cũng luôn luôn thua nhiều bạn. Chạy không nhanh bằng người là hỏng rồi. Kỹ thuật đưa chân lạng qua, lạng lại để lừa banh, dẫn banh không khéo cũng là hỏng. Tuy nhiên, bóng tròn hay tuyệt vời là chỗ, bạn chỉ cần ngồi bên lề và nhìn thấy banh lăn trên sân cỏ là đủ thấy hạnh phúc rồi. Nghĩa là, chỉ ngó banh là đủ để hạnh phúc.

Tuy nhiên, thời gian chơi bóng tròn nơi sân cỏ không nhiều trong niên học. Thời đó, xã hội mình chú trọng điểm học nhiều hơn. Tôi và đám bạn lại tìm ra môn chơi bóng mới: đá banh bàn. Thường là nơi một tiệm tạp hóa, hay một tiệm bi-da vẫn có một hay hai bàn bóng đá. Kiểu chơi cũng đơn giản. Đó là một chiếc bàn hình chữ nhật mô phỏng sân bóng tròn thu nhỏ, có thành băng cao để bóng không bay ra ngoài. Có tổng cộng 8 thanh sắt xuyên qua hai bên thành bàn (mỗi bên 4 thanh). Trên các thanh này có gắn cố định các quân người máy nhỏ bằng nhựa hoặc gỗ đại diện cho cầu thủ. Ở hai đầu bàn có hai lỗ khoét sâu xuống, đóng vai trò là cầu môn của mỗi bên. Quả bóng nhỏ, cứng, có kích thước tương đương hoặc nhỏ hơn quả bóng bàn (ping-pong) một chút, thường làm bằng nhựa cứng hoặc gỗ nhẹ để lăn và nảy tốt. Tôi và đám bạn học thường lui tới các nơi có bàn đá banh bàn ở khu Tân Định. Hễ tan trường là tới chơi chừng nửa giờ rồi mới về nhà. Tuy nhiên, la cà như thế, tôi lại học thêm, biết chơi môn bi-da (Billiards), nhưng chỉ biết môn bi-da loại bàn 3 banh, về sau thấy có loại cả chục quả banh (gọi là bi) thì lạ rồi. Khi chuyển trường sang Chu Văn  An thì tự nhiên tôi mất thói quen chơi banh bàn và bi-da.

Có nhiều lý do. Trong đó, tôi nghĩ là mê đọc nhiều hơn. Sách đã làm tôi lười ra sân cỏ hơn. Tôi mê truyện. Nhưng thỉnh thoảng, khi có các trận banh trực tiếp truyền thanh, tôi lại ra quán hớt tóc đầu xóm Chuồng Bò trong đường Nguyễn Thông để ngồi chung với vài người hàng xóm, lắng nghe qua sóng phát thanh giọng cụ xướng ngôn viên Huyền Vũ trực tiếp kể về các trận banh. Thực sự, cha tôi có một máy phát thanh (chữ Miền Bắc gọi là đài, chữ Miền Nam gọi là radio), nhưng tôi không dám đụng tới, vì chủ yếu là cha tôi dùng để nghe tin quốc sự trên các đài BBC, VOA. Và hình như, theo tôi nhớ, có thể là cha nghe cả truyền thanh từ Miền Bắc tới. Tôi đoán là Miền Nam cấm nghe đài Miền Bắc, vì những lúc như thế, ba tôi áp tai sát vào chiếc máy radio hiệu Panasonic của Nhật, mặt rất nghiêm và buồn. Tôi nghĩ rằng cha muốn nghe tin về Hà Tĩnh, nơi cha ra đời, nhưng chẳng bao giờ tôi dám hỏi cha nghe những gì. Thêm nữa, quốc sự là cái gì rất xa lạ với bọn học trò như tôi thời đó.

Có những buổi trưa, buổi chiều vui tưng bừng, là khi các bác, các anh trong xóm rủ nhau tới tiệm hớt tóc và nghe trực tiếp truyền thanh các trận banh. Tôi không nhớ chính xác các diễn biến, chỉ nhớ trong ký ức những đứa học trò như tôi cũng vô nghe ké, rồi hô lớn vô, vô, vô... cùng với các bác người lớn. Có khi tôi cầm theo một cuốn sách ra tiệm hớt tóc, vừa ngồi nghe, vừa đọc khi không có những âm thanh vang dội. Nghĩa là, càng lớn, tôi càng nghe một cách lơ là, không kiểu nghe từng lời của bác Huyền Vũ. Bây giờ, tất cả những hình ảnh và âm thanh hiện lên trong trí nhớ như một giấc mơ.
Cầu thủ Pele lúc đó là một huyền thoại, một thiên tài. Hồi xa xưa đó chưa có truyền hình. Bây giờ, có lúc vô YouTube tìm xem Pele, thì phim đen trắng cũ mèm, mờ mờ ảo ảo. Tội nghiệp Pele. Không thể nào như Messi hiện nay, hình màu TV, xem trên YouTube rực rỡ màu sắc âm thanh là dư sức phê rồi. Sau khi nhóm học sinh Trần Lục chuyển trường sang Trung học Chu Văn An, thế là được nâng cấp: tập thể dục thể thao ở sân Phan Đình Phùng (sân này không rõ đổi tên mới là gì). Nhiều thầy nổi tiếng hơn, thế là học trò đứa nào cũng tự thấy trang nghiêm hơn. Thêm nữa, phải lo thi cử. Rồi bẵng đi nhiều năm nữa.


Có mấy dòng thơ còn nhớ mang máng, từ khi tôi nghĩ rằng mình hiểu được lờ mờ Tâm Kinh, lúc đó mừng vô cùng tận, bây giờ chỉnh lại cho ý nghĩa ngay ngắn. Dù vậy, lúc đó tôi vẫn nói chuyện đá banh cho giảm bớt chất thơ mộng.

Banh đi qua tuổi học trò
Lăn theo đồi núi sông hồ biển xa
Sút một cú, trời mưa hoa
Cúng dường vô lượng ta bà sắc không.
Nửa khuya thức ngó mười phương
Thấy ngàn mây dạt vầng dương ửng hồng.

Rất nhiều năm về sau, khi vào nghề báo, có lúc tôi nghĩ mình nên viết một truyện ngắn có ý nghĩa liên hệ tới bóng tròn. Tôi nhớ rằng trong thời gian Cuộc Chiến Việt Nam 1954-1975, có lẽ đợt ngừng bắn chính thức lâu nhất (ít nhất là trên danh nghĩa) khoảng hơn một tháng sau khi ký Hiệp định Paris. Nghĩa là, từ ngày 28 tháng 1/1973 trở đi. Thời gian ngưng bắn cũng là hai phía Nam quân và Bắc quân rủ nhau cắm cờ, lấn đất, giành dân... trước khi tiếng súng bùng phát dữ dội trở lại, vì khi hai bên cùng lấn đất thì sẽ đụng nhau để bùng nổ các đợt tấn công mới.

Tôi nghĩ ra một truyện ngắn, nội dung sơ lược là: trong những ngày mới ngưng bắn sau Hiệp định Paris, quân hai miền Nam, Bắc còn choáng váng, còn ngây ngất vì niềm vui ngưng bắn, thì tại một ngôi làng nào đó ở Miền Trung, nơi bọn thanh niên hồi nhỏ học chung trường tiểu học, rồi học lên trung học, có nhiều kỷ niệm khi chia phe đá banh. Tới khi chiến tranh bùng nổ khắp nơi, có lẽ nên ghi là khoảng giữa thập niên 1960s, sau khi quân Mỹ bắt đầu vào Đà Nẵng, thì các thanh niên mới lớn trong làng liền chia đôi, y hệt như thời Rồng Tiên ly dị, một nửa lên núi tòng quân cho VC, và một nửa xuống biển nhập ngũ cho VNCH.

Đúng vậy, thời gian một tuần lễ sau khi ký Hiệp định Paris là lúc ngưng bắn thực sự ở rất nhiều ngôi làng. Thế rồi tại ngôi làng đó, một trận đá banh được các bạn học cũ – bấy giờ nửa kia là du kích và nửa kia là địa phương quân -- sắp xếp. Các bạn này ở cấp bậc quá thấp, nên không hề nghĩ rằng ngưng bắn chỉ là tạm. Nhưng các chàng hẹn nhau sẽ gặp nhau để đá một trận banh cho tưng bừng ngày bạn cũ gặp lại, tuy rằng đứng ở hai màu cờ nhưng tình bạn vẫn không quên nhau. Cuối cùng, tôi không viết được truyện ngắn đó, vì trong lòng tự nhiên thấy bất an. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng sân banh là nơi tuyệt vời nhất để bạn cũ gặp nhau so giày, bất kể các lá cờ cắm hai phía khác màu.

Tôi không nghĩ nhà văn chọn đề tài bóng tròn là hỏng. Bởi vì, chuyện gì rất là con người cũng đều tốt đẹp và có thể lay động lòng người. Thí dụ, một nhà văn điển hình đã sống trọn lòng, trọn dạ cho bóng tròn là Eduardo Galeano (1940-2015). Theo Wikipedia, ông tên đầy đủ là Eduardo German María Hughes Galeano, là một nhà báo, nhà văn và tiểu thuyết gia người Uruguay; ông được ca ngợi là "nhà văn khổng lồ của phe cánh tả Mỹ Latinh" và là "nhà văn lỗi lạc nhất thế giới về đề tài bóng đá."

Khi Galeano từ trần, bình luận gia văn học Hoa Kỳ Bill Littlefield, đã viết một bài tưởng niệm và đọc trên làn sóng truyền hình WBUR. Bài viết của Littlefield có tựa đề "Remembering Eduardo Galeano, Writer And Soccer Lover" (Tưởng nhớ Eduardo Galeano -- Nhà văn và Người đam mê bóng đá) đăng ngày 15/4/2015, trích như sau:

Có rất nhiều cuốn sách dở viết về đề tài thể thao.
Có lẽ tệ nhất là những cuốn sách được cho là do các huấn luyện viên viết. Những cuốn sách này dựa trên một tiền đề thiếu vững chắc: rằng việc dẫn dắt một nhóm vận động viên giành chức vô địch đồng nghĩa với việc đủ tư cách để dạy các nhà môi giới chứng khoán hay quản lý tại các tiệm ăn McDonald's về cách biến nhân viên của họ thành những người chiến thắng.
Nhưng ông [Galeano] cũng viết về bóng đá, và ông kiên quyết không để sự thương mại hóa hay các màn tiếp thị làm vẩn đục niềm vui mà ông tìm thấy trong những khoảnh khắc huy hoàng nhất của môn thể thao này.
Trong cuốn sách tuyệt vời mang tên "Children of the Days" (Những đứa con của tháng ngày), Galeano kể câu chuyện về Manuel Alba Olivares. Cậu bé mới 11 tuổi khi chứng kiến ​​bàn thắng mà cầu thủ Diego Maradona ghi được sau pha đi bóng vượt qua sáu cầu thủ Anh tại World Cup 1986. Ngay khoảnh khắc lưới rung lên báo hiệu bàn thắng, cậu Olivares nhỏ bé liền bị mù. Đó là hình ảnh cuối cùng cậu nhìn thấy. Tuy nhiên, theo lời nhà văn Galeano, cậu Olivares vẫn có thể mô tả chi tiết và chính xác từng cử động của cầu thủ Maradona.
Đó là tài năng mà Eduardo Galeano trân trọng. Trong cuốn "Soccer in Sun and Shadow" (Bóng tròn dưới ánh mặt trời và bóng râm), nhà văn Galeano viết: ‘Tôi đi khắp thế giới với bàn tay ngửa ra, và tại các sân vận động, tôi khẩn cầu: 'Hãy cho tôi thấy một pha bóng đẹp, Trời ạ.' Và khi bóng đá đẹp xuất hiện, tôi tạ ơn phép màu đó mà chẳng hề bận tâm đội bóng hay quốc gia nào đã tạo ra nó.’
Nhà văn Eduardo Galeano được ca ngợi rộng rãi như một đối trọng với những người viết lịch sử từ góc nhìn của kẻ chiến thắng. Ông dành sự ưu tiên cho những câu chuyện về những con người với những cuộc đấu tranh dũng cảm nhưng đã bị lãng quên.
Song, khiếu hài hước luôn hiện hữu trong giọng văn của ông cũng là một phần không thể tách rời trong những thành tựu mà ông đạt được. Trong bài viết có tựa đề "Author’s Confession" (Lời thú tội của tác giả), chủ đề chính là bóng tròn và bản thân ông, nhưng đó cũng là câu chuyện về mọi người hâm mộ ở bất cứ đâu từng ấp ủ một giấc mơ.
‘Giống như mọi đứa trẻ Uruguay khác, tôi từng muốn trở thành cầu thủ bóng tròn,’ nhà văn Galeano viết. ‘Tôi chơi khá hay. Thực ra, tôi chơi cực kỳ xuất sắc, nhưng chỉ là trong những giấc mơ khi tôi đang ngủ mà thôi.’” (Hết trích)

Thực ra, nhà văn Eduardo Galeano còn rất nhiều phương diện khác cũng độc đáo. Ông là một nhà văn cánh tả, từng bị cánh hữu bắt giam, đẩy ra nước ngoài lưu vong, rồi lại có lệnh truy nã và nhiều sóng gió nữa. Nhưng đó là chuyện khác.

Nơi đây chúng ta chỉ nói chuyện bóng tròn. Và tôi nghĩ rằng, người dân già trẻ lớn bé trong ngôi làng giả tưởng ở Miền Trung sẽ rất là hạnh phúc nếu được chứng kiến một trận bóng tròn giữa các chàng trai từng sinh và lớn lên trong làng và lúc đó là đã chia thành hai phe – phe du kích VC và phe địa phương quân VNCH – đá một trận banh cho đã đời, trong những ngày tạm ngưng bắn để cắm cờ giành dân hồi năm 1973. Tất cả những cậu bé sau khi chứng kiến trận banh đó sẽ không bao giờ quên được trận banh đó. Vì đó là trận banh cuối cùng giữa các chàng trai, trước khi họ sẽ tìm nhau để giết nhau.

Vậy mà tôi không viết được. Cũng không nghĩ ra cốt truyện để cho một cậu bé sẽ mù sau đó nhưng rất là hạnh phúc từ khi xem trận banh đó. Đúng như thế: khi chạy theo banh là hạnh phúc. Kể cả trong giấc mơ.
 

Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Những suy nghĩ dưới đây như một cách tự đối thoại với câu hỏi của chính mình: tại sao “kịch văn học” gần như biến mất trong văn chương hải ngoại? Trước hết cần phân biệt kịch văn học và kịch giải trí. Kịch giải trí hướng đến tiếng cười và cảm xúc tức thời của khán giả. Nó có thể linh hoạt, ứng biến, thậm chí chấp nhận đơn giản hóa xung đột để phục vụ nhu cầu thưởng thức (ví dụ: kịch trình diễn trên Paris By Night). Kịch văn học thì khác. Nó không tìm cách làm vừa lòng người xem, mà đặt con người vào những tình huống va chạm gay gắt, buộc nhân vật phải lựa chọn, đối diện và trả giá. Ở đó, đối thoại không chỉ để kể chuyện, mà để phơi bày mâu thuẫn tinh thần, xã hội và đạo lý.
Một dân tộc có tài, nhưng không tin vào tài. Người Việt thường được khen là khéo, nhanh trí, ứng biến giỏi. Nhưng tài năng ấy nhiều khi vận hành như chiến thuật sinh tồn, không phải xung lực sáng tạo. Trong văn chương, điều này hiện ra rất rõ: các tác giả Việt thường tin vào nỗi đau hơn là vào tư tưởng. Nỗi đau dễ được đồng cảm, tư tưởng dễ bị nghi ngờ. Vì thế, tài năng Việt giống ngọn đèn không dám mở sáng hết bóng mình. Nó sáng vừa đủ để thấy đường, nhưng không đủ để soi cái bóng đang cầm đèn. Đó là lý do, dù có nhiều nhà văn tài hoa, văn chương Việt vẫn thiếu một “không gian tin tưởng triết học” – tức niềm tin rằng viết là hành động tư tưởng, chứ không chỉ là kể chuyện hay cảm xúc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.