Hôm nay,  

Dạ Khúc, Đêm Trốn Chạy

03/07/202600:00:00(Xem: 246)
Thanh tam tuyen_Đinh Cường
Chân dung Thanh Tâm Tuyền - Họa sĩ Đinh Cường.
 
Một thi sĩ đúng nghĩa là một nhân chứng trung thực qua chữ nghĩa thơ. Đây là ý của nhà thơ Wilfred Owen (1893-1918.)

Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)

Cái đẹp bao gồm tính vật lý, tâm lý và siêu hình. Trong lãnh vực tâm lý và siêu hình, cái đẹp hiện diện khắp nơi, chờ đợi sự khám phá. Trong cái xấu, cái ác, cái hư hỏng vẫn có thể nhìn thấy cái đẹp, vì vậy, có câu: Đẹp một cách xấu hoặc xấu một cách đẹp. Thơ cưu mang bản chất thuận và nghịch. Chính vì vậy, một trong số thủ thuật tìm hiểu thơ hay là tìm thấy những nghịch lý, phi lý ở nội dung cũng như hình thức của bài thơ.

Dạ Khúc là một trong số bài thơ nổi bật của Thanh Tâm Tuyền. Trong dạng thơ tự do trình bày bằng nhiều ẩn dụ và biểu tượng. Những hình ảnh truyền đạt, những hình ảnh đối nghịch trong các tứ thơ rất sắc sảo, mạnh mẽ, tạo ấn tượng. Sử dụng tứ thơ khác lạ, chọn những hình ảnh hữu hiệu là điểm mạnh trong sáng tác của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.

Về cấu trúc

Dạ khúc gồm có: Bốn câu mở, bốn câu kết, mười sáu câu thân chia làm hai đoạn. Diễn tiến của cấu trúc theo chiều dài thời gian. Một lối cấu trúc tự nhiên và truyền thống trong văn học thơ Việt.

Bài thơ bắt đầu bằng bốn câu mở, tiếp theo là mười sáu câu thân và bốn câu kết. Toàn bài dựng trên những câu thơ chủ lực:

Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Sao tuổi trẻ quá buồn
như con mắt giận dữ
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như bàn ghế không bầy
Anh đưa em đi trốn.

Bảy câu trên cũng có thể là một bài thơ đầy đủ như một bài thơ ngắn với nhiều khoảng trống để tư duy. Câu “như bàn ghế không bầy” là câu yếu nhất so với các câu kia. Ý thơ chỉ là “tuổi trẻ cô đơn”

Thông điệp chính của bài thơ là “Sao tuổi trẻ quá buồn.” Ông đại diện cho thế hệ của ông để nói lên thực trạng chung, một cách sống chung của tuổi trẻ trong cùng thời đại. Thông điệp đó là một câu hỏi.

Câu hỏi không hẳn cần câu trả lời vì câu hỏi này mang tính triết lý hơn là cách hỏi bình thường. Câu hỏi lôi theo nhiều câu hỏi khác. Ví dụ như, tại sao tuổi trẻ chúng tôi lại buồn? Tuổi trẻ có quả gì với cái nhân của đất nước, dân tộc? Tại sao tuổi trẻ không được tận hưởng mùa xuân mà lây lất trong mùa thu, chuẩn bị một mùa đông lầy lội trước mặt?

Tựu trung, bài thơ này “buồn” là dấu hỏi, một thao thức, một phản đối, một chất vấn. Như Leonard Cohen đã viết: “Thơ chỉ là bằng chứng của cuộc sống. Nếu cuộc sống của bạn đang cháy, thơ chỉ là tro tàn.” (Poetry is just the evidence of life. If your life is burning well, poetry is just the ash.) 

Phân lý bài thơ

Đây là một bài thơ dễ hiểu qua diện ngôn ngữ. Không có chữ mới. Không có chữ phức tạp. Tất cả những gì khó hiểu nằm nơi hình ảnh trong ẩn dụ và biểu tượng. Nghĩa là chúng ta nỗ lực vạch trần những ngụ ý theo lề lối khoa học nhân văn để minh bạch hóa thay vì những lời tán rộng mơ hồ và những ý tưởng chơi vơi không liên can mấy đến bài thơ.

Lối bình thơ mà chúng ta thường gặp là lối bình thơ kéo dài từ trước năm 1975, Bình Thơ Tản Mạn. Nghĩa là trích những đoạn thơ rồi tản mạn về những đoạn thơ đó. Giải thích càng mơ hồ thì càng đúng với bản chất mơ hồ của thơ. Đôi khi chính vì lời bình, làm cho bài thơ khó hiểu hơn. Không phải chỉ phê bình Việt đi trên lối truyền thống này, mà nền phê bình Tây phương trước thế kỷ 20 cũng vậy. Từ thế kỷ 20 trở đi, phê bình Tây phương mới có nhiều thay đổi mới, lộng lẫy với lý thuyết tâm lý của Freud và các tâm lý gia của các thế hệ tiếp theo; với lý thuyết kinh tế-xã hội của Karl Marx; với Ký Hiệu Học; với Cấu Trúc Luận; với giải Cấu Trúc, vân vân…tiến vào thế kỷ 21 bằng một hỗn hợp phê bình với cá tính độc đáo của mỗi nhà phê bình nổi bật.

Bốn câu đầu tiên, bốn câu mở, hoàn tất luận lý và văn phạm như nhột đoạn văn xuôi: “Anh sợ những cột đèn đổ xuống rồi dây điện cuốn lấy chúng ta. Bóp chết mọi hy vọng nên anh dìu em đi xa.” Nếu lấy đi hai chữ “rồi” và “nên”, thì câu văn sẽ thơ hơn. Đoạn thơ sẽ rời rạc, không cần luận lý chặt chẽ, tạo ra khoảng trống cho tư duy, như:       

Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hi vọng
Anh dìu em đi xa

Cụm từ “bóp chết” có vẻ không phù hợp ý thơ. Dây điện cuốn lấy chúng ta, siết chết mọi hy vọng thì mới phù hợp với luận lý liên tục bởi chữ rồi và nên. Tôi nghĩ, sau cột đèn và dây điện, tác giả đổi sang một góc nhìn khác. Bóp chết ngụ ý một lực lượng khác mà cột đèn và đây điện làm ẩn dụ. Lực lượng đời sống, xã hội hoặc định mệnh. Hoặc là tác giả có ngụ ý gì khác với chữ ”bóp” mà tôi chưa khám phá ra.


Tứ thơ và hình ảnh cột đèn đổ xuống, dây điện cuốn chết con người là một tứ thơ độc đáo, ấn tượng. Mở đầu bằng một ẩn dụ như vậy khiến cho bài thơ quyến rũ người đọc tò mò muốn biết kết cuộc sẽ ra sao?

Phần mười sáu câu thơ thân chia làm hai đoạn “Đi đi”. Đoạn đầu là đi công viên. Đoạn tiếp theo là đi quán rượu.
Đi đi chúng ta đến công viên / Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối / Ôi môi em như mật đắng / Như móng sắc thương đau

Đoạn đầu ngắn, tác giả nói về bản chất tình tình yêu. Muôn thuở, tình lúc nào cũng ngọt mà yêu lúc nào cũng đắng. Tác giả sử dụng những hình ảnh rất hiệu quả vì gần gũi với trải nghiệm vị giác: ngọt và đắng, gần gũi với xúc giác: móng sắc. Theo tâm lý, yêu thường xuyên đắng là vì ghen và sợ mất người yêu.

Tình yêu là một phần thứ yếu trong bài thơ này, phần dài hơn là chủ đề thân phận trong đoạn thứ hai:

Đi đi anh đưa em vào quán rượu / Có một chút Paris / Để anh được làm thi sĩ / Hay nửa đêm Hà Nội / Anh là thằng điên khùng.

Paris và Hà Nội là một cặp đối đầu. Thi sĩ và thằng điên là một cặp đối đầu. Paris thuở ấy là chiếc nôi vàng son của văn học nghệ thuật, hầu hết các nghệ sĩ danh tiếng trên thế giới và những nghệ sĩ sắp nổi danh đều sống ở đó hoặc ghé đến như những kẻ hành hương. Ước mơ của nhân vật chính là được làm và được công nhận như một thi sĩ ở cấp độ Paris. Nhưng tiếc thay chỉ là nửa đêm Hà Nội.

Lúc này, tác giả đã vào Nam. Ký ức về Hà Nội mang tính chính trị và xã hội, gợi ý nơi đó, không thể làm nghệ thuật, không có thi sĩ chỉ có những gã điên khùng. Dưới chế độ Cộng Sản có bao nhiêu người làm thơ là thi sĩ thực sự?

Hình ảnh quán rượu có người bán hàng ngủ sau quầy, không phải là quán cóc bên đường bán rượu đế, mà là một “bar” rượu theo kiểu Pháp. Nơi thấp thoáng một chút Tây, một chút Paris. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của Tây Phương vào tận sở thích và ý tưởng của tác giả.

Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới / Chiếc kèn hát mãi than van / Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng /

Câu ôm em trong tay là ý thơ của Jack Prevet mà Thanh Tâm Tuyền đã khéo léo tái tạo trong ngôn ngữ Việt. Cụm từ “đã nhớ” chính xác nói lên điều gì đau đớn cho mai sau từ hạnh phúc hôm nay. Hai câu tiếp theo có thể diễn tả một bối cảnh của đôi tình nhân đang dìu nhau trong điệu nhạc khắc khoải. Thêm một hình ảnh nữa về nếp sống rất Tây.

Sao tuổi trẻ quá buồn / như con mắt giận dữ / Sao tuổi trẻ quá buồn /như bàn ghế không bầy

Thông điệp và ý chính của tác giả nằm trong bốn câu này. Tứ thơ con mắt giận dữ diễn tả tuổi trẻ quá buồn nói lên sự uất hận trong tâm trạn chán nản. Truyền đạt đến như vậy là cùng, khó làm sao hơn nữa. Nhưng bàn ghế lẻ loi không bầy để gợi lên sự cô đơn lạc lỏng của tuổi trẻ thì không xuất sắc lắm. Có nhiều hình ảnh khác độc đáo, mạnh bạo hơn để so sánh với tuổi trẻ quá buồn.

Thôi em hãy đứng dậy 
người bán hàng đã ngủ sau quầy 
anh đưa em đi trốn 
những giày vò ngày mai

Bốn câu kết thể hiện nỗi cam chịu, bỏ cuộc và trốn tránh. Tâm lý bi quan. Hình như chỉ có sức giận dữ hiện lên nơi con mắt. Thế thôi, toàn bộ bài thơ là một tâm trạng than thở, không biết làm gì hơn.

Trong bốn câu mở, tác giả viết: “Anh dìu em đi xa.” Trong bốn câu kết, tác giả viết: “Anh đưa em đi trốn.” Sự liên hệ giữa hai câu đúc kết một điều gì ủy mị. Tuổi trẻ chạy trốn khi đối diện nỗi buồn, khi phải đương đầu với bối cảnh khó khăn. Nhà thơ Audre Lorde nói:  “Thơ không chỉ là giấc mơ và viễn cảnh; nó là kiến trúc xương sống của cuộc đời. Nó đặt nền móng cho một tương lai đổi thay, một cây cầu bắc qua nỗi sợ hãi về những điều chưa từng có trước đây.” (Poetry is not only dream and vision; it is the skeleton architecture of our lives. It lays the foundations for a future of change, a bridge across our fears of what has never been before.) Trong tinh thần này, các bạn nghĩ sao về bài thơ Dạ Khúc? Chẳng lẽ đây là hiện trạng của tuổi trẻ trong thời đó, một bóng dáng nền móng của thế hệ?

Gần hai mươi năm sau, các thế hệ tuổi trẻ ở miền Nam trước tháng Tư năm 1975 chẳng những sao quá buồn, mà còn sao quá khốn khổ?

Kết luận

Ưu điểm của bài thơ là truyền đạt rõ ràng một trạng thái cảm xúc cụ thể: Tuổi trẻ của thế hệ dù có tình yêu cũng không lấp đầy nỗi buồn thân phận. Tạo được sự cảm thông nơi người đọc về nỗi ưu tư thời cuộc. Những hình ảnh với tứ thơ đặc sắc, nặng ý nghĩa và đạt được vẻ đẹp của thơ. Những nổi bật này làm bài thơ hấp dẫn, truyền tải chủ đề một cách hiệu quả.  Mặc dù có những chi tiết trừ bớt giá trị nhưng bài thơ này đã thỏa mãn hầu hết người đọc.

Nhận xét riêng của tôi về cá tính của bài thơ, có lẽ cũng là một phần cá tính của tác giả đã tạo ra không khí và cảm giác bi quan về thân thế trong thời cuộc. Chất bi quan này kéo dài qua nhiều nhà thơ trẻ về sau và kéo băng qua đại dương với những nhà thơ nhập cư. Khi đối đầu với thời cuộc, hình như hầu hết thơ Việt là bi quan, nẩy sinh ra hai nhánh lớn: 1- Bất cần đời. 2- Tìm đến tình yêu. Và thơ tình, thơ cảm tính chiếm 90% của thơ Việt nhập cư.
Ngu Yên

Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Những suy nghĩ dưới đây như một cách tự đối thoại với câu hỏi của chính mình: tại sao “kịch văn học” gần như biến mất trong văn chương hải ngoại? Trước hết cần phân biệt kịch văn học và kịch giải trí. Kịch giải trí hướng đến tiếng cười và cảm xúc tức thời của khán giả. Nó có thể linh hoạt, ứng biến, thậm chí chấp nhận đơn giản hóa xung đột để phục vụ nhu cầu thưởng thức (ví dụ: kịch trình diễn trên Paris By Night). Kịch văn học thì khác. Nó không tìm cách làm vừa lòng người xem, mà đặt con người vào những tình huống va chạm gay gắt, buộc nhân vật phải lựa chọn, đối diện và trả giá. Ở đó, đối thoại không chỉ để kể chuyện, mà để phơi bày mâu thuẫn tinh thần, xã hội và đạo lý.
Một dân tộc có tài, nhưng không tin vào tài. Người Việt thường được khen là khéo, nhanh trí, ứng biến giỏi. Nhưng tài năng ấy nhiều khi vận hành như chiến thuật sinh tồn, không phải xung lực sáng tạo. Trong văn chương, điều này hiện ra rất rõ: các tác giả Việt thường tin vào nỗi đau hơn là vào tư tưởng. Nỗi đau dễ được đồng cảm, tư tưởng dễ bị nghi ngờ. Vì thế, tài năng Việt giống ngọn đèn không dám mở sáng hết bóng mình. Nó sáng vừa đủ để thấy đường, nhưng không đủ để soi cái bóng đang cầm đèn. Đó là lý do, dù có nhiều nhà văn tài hoa, văn chương Việt vẫn thiếu một “không gian tin tưởng triết học” – tức niềm tin rằng viết là hành động tư tưởng, chứ không chỉ là kể chuyện hay cảm xúc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.