Hôm nay,  

Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc

18/09/202600:00:00(Xem: 249)
 
Quyen muu cau hanh phuc 01

Hạnh phúc thay những giây phút bên nhau. (Photo: www.pixabay.com)

 
Trên thế gian này, không người nào không muốn có được cuộc sống hạnh phúc. Điều này cho thấy một sự thật khó chối cãi rằng là ai cũng đã từng trải nghiệm sự đau khổ trong đời mình! Hay nói cách khác, khổ đau là sự thật phổ quát ở trên đời. Chính vì vậy, tất cả mọi người đều mưu cầu hạnh phúc.
Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã nhìn thấu rõ được sự thật ấy cho nên đã viết trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ (The United States Declaration of Independence) rằng: “Chúng tôi giữ gìn những sự thật hiển nhiên này, rằng tất cả con người đều được tạo ra bình đẳng, rằng họ được Tạo Hóa ban cho một số quyền bất khả chuyển nhượng, rằng trong số những quyền này là quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc.”

Nhưng, hạnh phúc là gì? Bách Khoa Từ Điển Mở (www.en.wikipedia.org) viết rằng, “Hạnh phúc là trạng thái tinh thần phức tạp và đa dạng gồm nhiều cảm xúc tích cực, từ sự thỏa mãn đến niềm vui tột cùng. Nó thường gắn kết với những kinh nghiệm tích cực trong cuộc sống, như đạt được các mục đích, dành thời gian ở với những người yêu thương, hay tham dự vào các hoạt động vui thích. Tuy nhiên, hạnh phúc cũng có thể khởi sinh một cách tự nhiên mà không cần bất cứ nguyên nhân bên ngoài nào rõ rệt.”

Hạnh phúc liên kết chặc chẽ với sự khỏe mạnh và sự hài lòng cuộc sống nói chung. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng những người hạnh phúc thì có khuynh hướng có sức khỏe thể chất và tinh thần tốt hơn, có nhiều mối quan hệ xã hội mạnh mẽ hơn, và có sự phục hồi tốt hơn khi đối diện với sự khó khăn, theo Bách Khoa Từ Điển Mở.

Trong tiểu luận “What Jefferson really meant by the ‘Pursuit of Happiness’” [Jefferson thực sự muốn nói gì qua việc ‘Mưu Cầu Hạnh Phúc’] được đăng trên trang https://news.wm.edu hôm 22 tháng 6 năm 2026, nữ ký giả người Mỹ Susan Corbett trích nhận định của Giáo Sư Adam Potkay dạy về Nhân Văn Học tại Đại Học William & Mary ở Virginia, nói rằng có hai loại hạnh phúc. Thứ nhất, thường được gọi là hạnh phúc vui thích (hedonic happiness – hedone là chữ Hy Lạp có nghĩa là sự hài lòng, vui thích), để chỉ cho sự vui thích và các cảm giác tích cực. Nó là loại hạnh phúc liên kết với các kinh nghiệm vui thích như thức ăn, tình yêu, kỳ nghỉ tuyệt vời, thành công nghề nghiệp. Đây là loại hạnh phúc mà hầu hết mọi người sử dụng ngày nay muốn nói đến. Loại thứ hai, hạnh phúc tinh thần thiện lành (eudaimonic happiness – eudaimonia là tiếng Hy Lạp, eu có nghĩa là tốt, daimon là tinh thần). Nó không chỉ nói đến cảm giác hài lòng tạm thời mà còn nói đến cuộc sống thịnh đạt của con người. Theo Giáo Sư Adam Potkay, triết gia Aristotle cho rằng cuộc sống thịnh đạt có nghĩa là cuộc sống được biểu thị bởi đức hạnh, trí tuệ và phục vụ tha nhân. Hạnh phúc không chỉ là điều con người cảm nhận; nó còn là điều mà con người nỗ lực đi tới qua sự trao dồi nhân cách của mình.

Quyen muu cau hanh phuc 02

Có cơm ăn áo mặc là hạnh phúc rồi. (Photo: www.pixabay.com)


Ở đây, chúng ta thấy hạnh phúc hàm ngụ trong hai lãnh vực sinh hoạt của con người: thể chất và tinh thần. Với thể chất, hạnh phúc là những gì con người cảm thọ được một cách hài lòng hay vui thích từ kinh nghiệm thường nghiệm, như ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc, yêu thương, đi chơi. Loại hạnh phúc này, dĩ nhiên, không tồn tại lâu dài, vì những hành động và cảm thọ ấy là tạm thời. Chúng xảy ra, tồn tại và biến mất. Trong đời người, con người đã từng trải nghiệm vô số những cảm giác vui thích ấy. Nhưng ngược lại, con người cũng trải qua rất nhiều cảm giác đau khổ, thất vọng. Không một người bình thường nào trong đời mình không nếm phải hai cảm thọ khổ và lạc đó.

Loại hạnh phúc thứ hai thuộc lãnh vực tinh thần. Đó là hạnh phúc tinh thần thiện lành như Giáo Sư Adam Potkay đã nói ở trên. Điểm quan trọng trong loại hạnh phúc này là tinh thần thiện lành, tức là thiện tâm. Loại hạnh phúc này được xây dựng trên đức hạnh, trí tuệ và phục vụ tha nhân, như triết gia Aristotle đã nói. Hạnh phúc thiện lành, như vậy, dường như gần gũi với quan điểm về hạnh phúc của Đông phương, nơi mà chủ trương rằng cuộc sống có thiện tâm là nền tảng cho mọi hạnh phúc hay phúc lạc trường cửu đối với con người. Thiện tâm chính là đức hạnh, là trí tuệ, là lòng vị tha (phục vụ tha nhân).  

Theo đó, hạnh phúc đích thực không chỉ đơn thuần là cảm giác hài lòng hay thỏa mãn thường tình, mà còn phải có nội hàm đức hạnh, trí tuệ và phục vụ tha nhân. Nếu thiếu các đức tính như đức hạnh, trí tuệ và lợi tha thì hạnh phúc chỉ còn là thứ cảm giác thỏa mãn phàm tình và tạm thời chứ không phải là mục đích cao cả và trường cửu của đời người. Giáo Sư Adam Potkay nói rằng, đối với triết gia Aristotle, “cuộc sống thịnh đạt được xây dựng qua hành động đạo đức và trách nhiệm công dân.”

Điều đó cũng chính là tâm ý của tác giả Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ là Thomas Jefferson (1743-1826). Theo Susan Corbett, Giáo Sư Adam Potkay cho biết rằng trong lá thư gửi các cựu sinh viên của Đại Học William & Mary và nhà ngoại giao Mỹ William Short vào năm 1819, Jefferson đã viết rằng, “… thừa nhận rằng sự vui thích là mục tiêu, nhưng đức hạnh là nền tảng của hạnh phúc thật sự.” Trong lá thư đó, Jefferson còn viết thêm rằng, “Mưu cầu hạnh phúc không phải là chỉ mưu cầu sự vui thích không thôi.”

Tư tưởng về quyền mưu cầu hạnh phúc của con người mà Jefferson đã viết trong Tuyên Ngôn Độc Lập được ảnh hưởng từ lý thuyết về “quyền tự nhiên” (natural rights) mà trong đó có “quyền sống, tự do và tài sản” (the rights of life, liberty and property) của triết gia người Anh John Locke (1632-1704), là tư tưởng gia có ảnh hưởng lớn của Thời Đại Khai Sáng -- Age of Enlightenment, cũng gọi là Thời Đại Lý Trí (Age of Reason) vào cuối thế kỷ 17 và thế kỷ 18 ở Châu Âu -- và cha đẻ của Chủ Nghĩa Tự Do (Liberalism) ở Châu Âu, theo Susan Corbett. Từ quan điểm của Locke về “quyền tài sản,” Jefferson thay đổi thành “quyền mưu cầu hạnh phúc.” Đó là sự chuyển đổi độc đáo trong tầm nhìn của Jefferson đối với nhu cầu hạnh phúc phổ quát của con người ở mọi nơi và mọi thời đại. Nó biến từ nhu cầu vật chất tầm thường, mang tính vị kỷ của cá nhân, sang nhu cầu tinh thần cao cả, mang tính thăng hoa phẩm đức con người và lợi ích cho người khác.

Theo Susan Corbett, Giáo Sư Adam Potkay còn đi xa hơn nữa khi cho rằng Jefferson đã nối kết hạnh phúc cá nhân với đức hạnh và trách nhiệm công dân. “Rằng, quan điểm của Jefferson về hạnh phúc là không thể tách rời với đức hạnh công dân. Một xã hội tự do dựa vào các công dân đức hạnh có thể tự quản trị chính họ. Tự do có thể tồn tại nếu các công dân sở hữu phẩm chất đạo đức cần thiết để sử dụng nó một cách có trách nhiệm.”

Gắn hạnh phúc vào “đức hạnh công dân” là cách Jefferson đưa tinh thần hạnh phúc cá nhân vào hiện thực xã hội để có thể xây dựng mối tương quan, tương duyên bất khả phân giữa cá nhân của từng người dân với toàn thể quốc gia dân tộc. Hạnh phúc của từng công dân chính là sự thịnh vượng của toàn đất nước, toàn xã hội. Nếu công dân thiếu đức hạnh, tức thiếu phẩm chất đạo đức thì cả quốc gia sẽ không thịnh trị, không tồn tại lâu dài. Đây là hệ luận rất quan trọng để xây dựng cơ đồ vững chắc cho đất nước Hoa Kỳ ngay từ những ngày đầu dựng nước.

Mỗi người dân là một viên gạch tạo thành ngôi nhà quốc gia. Quốc gia tự nó chỉ là một danh từ rỗng nếu không có sự hiện hữu thật sự của từng người dân. Nhưng nếu mỗi viên gạch chỉ là một cục đất thiếu chất lượng và không được nung chín đúng mức thì sẽ làm cho ngôi nhà quốc gia đó sớm sụp đổ. Tương tự như vậy, nếu mỗi công dân không có phẩm chất đạo đức, thiếu đức hạnh, và chỉ toàn là những người không có trí tuệ, không có tinh thần phục vụ tha nhân, chỉ biết vị kỷ, tự lợi và tham nhũng, chỉ biết khoác lác, khoe khoang, thì sẽ làm cho đất nước ngày càng lụn bại và suy vong.

Nhưng, nếu mỗi người dân đều tự mình mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình và theo cách của riêng mình, mà bất cần đến hạnh phúc của những người khác chung quanh thì hệ quả thấy rõ là sẽ tạo ra một tình cảnh hỗn loạn, bất ổn và khủng hoảng cho xã hội. Cho nên, song song với quyền mưu cần hạnh phúc, Jefferson nêu ra một nhu cầu hệ trọng khác. Đó là trách nhiệm của mỗi người dân và dĩ nhiên, có cả trách nhiệm của chính quyền.

Đối với cá nhân, trách nhiệm đi kèm với việc mưu cầu hạnh phúc là việc mưu cầu hạnh phúc ấy không vượt qua giới hạn của đạo đức, không vi phạm pháp luật, không làm tổn hại đến người khác, không nhắm mắt bịt tai trước những bất hạnh và đau khổ của tha nhân mà phải có tinh thần giúp đỡ và phục vụ mọi người. Nếu một người chỉ vì hạnh phúc của riêng mình mà dùng trăm phương ngàn kế để bóc lột, lừa đảo, chèn ép, đe dọa, hãm hại người khác thì đó là hành động thiếu trách nhiệm, mất đạo đức, và phạm pháp. Những người như thế cần phải bị luật pháp quốc gia chế tài.

Đối với chính quyền, trách nhiệm bảo vệ quyền mưu cầu hạnh phúc của người dân thì rất bao quát, bởi vì việc mưu cần hạnh phúc của công dân bao gồm hai lãnh vực, thể chất và tinh thần. Như đã nói ở trên, về thể chất, hạnh phúc là sự thỏa mãn những cảm giác vui thích trong sinh hoạt hàng ngày, như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đi lại, sức khỏe, tình yêu, v.v…; về tinh thần, hạnh phúc là sự thành đạt trong việc trao dồi đức hạnh, phát huy trí tuệ và phát khởi tâm phục vụ tha nhân. Như vậy, vai trò bảo vệ quyền mưu cầu hạnh phúc của chính quyền là làm sao hỗ trợ cho người dân có điều kiện khả dĩ để có thể có được những hạnh phúc thể chất và tinh thần, đồng thời bảo vệ an toàn cho người dân trong việc mưu cầu hạnh phúc và ngăn chận hay trừng phạt các trường hợp làm tổn hại đến hạnh phúc của người khác. Cung cấp thực phẩm, thuốc men, bệnh viện, y tế, trường học, phương tiện lưu thông, và an ninh, v.v.. cho người dân là những điều cụ thể mà chính quyền có thể làm để bảo vệ quyền mưu cầu hạnh phúc cho mọi công dân.

Đó có thể chỉ là những lý thuyết. Trên thực tế xã hội ngày nay, quyền mưu cầu hạnh phúc của người dân ngày càng bị giới hạn. Chẳng hạn, khi chính quyền cắt giảm các tài trợ cho các đại học, các trường trung tiểu học; khi chính quyền cắt giảm tài trợ cho việc nghiên cứu y khoa; khi chính quyền cắt bỏ tài trợ đối với các cơ quan nhân đạo trong và ngoài nước Mỹ; khi chính quyền cắt giảm tài trợ cho Medicare, Medicaid; khi giá thực phẩm và xăng dầu ngày càng leo thang, lạm phát phi mã, v.v… thì việc mưu cầu hạnh phúc của người dân càng khó khăn, càng bế tắc hơn!  Còn nữa, khi sự dối trá lên ngôi, thật giả lẫn lộn, đạo đức xuống dốc, lòng người hiểm ác, tâm vị kỷ và tự lợi lấn át lòng phục vụ tha nhân thì việc mưu cầu hạnh phúc tinh thần thiện lành ngày càng khó đạt được.

Nhưng, cho dù thế nào đi chăng nữa, mưu cầu hạnh phúc vẫn là khát vọng muôn thuở của con người. Ở điểm này, chúng ta không thể không thán phục tầm nhìn cao xa và rộng lớn của một trong những vị cha đẻ của nước Mỹ: Thomas Jefferson.
  

Theo nhà xuất bản, Kaho là lần đầu tiên một nhân vật nữ đơn độc giữ vai trò trung tâm trong một tiểu thuyết dài của Murakami – chi tiết đặc biệt đáng chú ý nếu đặt trong bối cảnh những phê bình nữ quyền lâu nay dành cho thế giới sáng tác của ông, cũng như các phát biểu trước đây của chính Murakami về cách ông xây dựng nhân vật nữ.
“Tôi mong người đọc có thể thấy hay cảm nhận được cái sức sống đẹp tươi và đầy màu sắc của một vùng trời đất hoa cỏ quê hương, nói riêng, và của cõi sống văn chương con người, nói chung. Cái cõi sống ấy, người viết và người đọc, ở nơi nào và thời nào, tôi tin, cũng đều muốn hướng đến. Trong đó, tất cả – người viết và người đọc, cái viết và cái đọc, cái được viết và cái được đọc – đều hạnh phúc quây quần và ca hát hạnh ngộ cùng nhau.” -- BVP
Trước khi trở thành một tiểu thuyết gia lừng danh, Toni Morrison vốn là một nhà giáo. Sinh năm 1931 tại Lorain, tiểu bang Ohio, bà theo học tại Howard University rồi Cornell University, sau đó trở lại Howard để giảng dạy Anh văn từ năm 1957. Chính từ môi trường học thuật ấy, một phần căn bản trong đời văn của Morrison đã được hình thành: tinh thần khảo sát, đối chiếu và chất vấn cách văn chương Hoa Kỳ nhìn nhận người da đen. Từ một cô giáo trẻ, Morrison dần bước sang đời sống xuất bản, trước hết bằng công việc biên tập, rồi bằng sáng tác tiểu thuyết. Bà trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên giữ một chức vụ biên tập tại Random House, sau đó đoạt giải Pulitzer năm 1988 với Beloved và giải Nobel Văn chương năm 1993. Khi bà qua đời năm 2019, di sản của bà đã vượt khỏi khuôn khổ tiểu thuyết để trở thành một phần quan trọng của văn học Mỹ hiện đại.
Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn Sống Cũng Ngụ Ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.
Nhưng tháng tư, dân tộc đã kiệt sức. Những người đẹp nhất từ hai phía đã chết. Còn lại, bọn tầm thường chúng ta. Khi dòng sông khô cạn, bầu trời thăm thẳm không gợn mây, cỏ cháy khô từ ngọn đến gốc, nhiều ngày không mưa, khi một xác chết nằm vắt qua đường ray xe lửa khô đi dưới nắng hạn chuyển màu đen nhưng không thối rữa, lẽ ra chúng ta phải biết mọi chuyện sắp kết thúc.
Có những tác phẩm sinh ra trong bóng tối mà không vì thế trở thành bóng tối. Trái lại, chúng như một đốm lửa nhỏ cháy mãi qua nhiều năm tháng lưu lạc của lịch sử. Der Kaiser von Atlantis của Viktor Ullmann và Peter Kien là một tác phẩm như thế, thai nghén trong trại Theresienstadt, giữa cái đói, cái lạnh, cái chết và một thế giới đã bị bạo lực xô đến tận cùng. Bị cấm. Bị vùi lấp. Nhưng nó không chết. Nhiều thập niên sau, nó lại bước ra ánh sáng, hóa thân sang một hình thức khác, tái sinh qua cuốn truyện tranh Death Strikes: The Emperor of Atlantis của Dave Maass và Patrick Lay.
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông. / Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.
Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.