Hôm nay,  

Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc

18/09/202600:00:00(Xem: 228)
 
Quyen muu cau hanh phuc 01

Hạnh phúc thay những giây phút bên nhau. (Photo: www.pixabay.com)

 
Trên thế gian này, không người nào không muốn có được cuộc sống hạnh phúc. Điều này cho thấy một sự thật khó chối cãi rằng là ai cũng đã từng trải nghiệm sự đau khổ trong đời mình! Hay nói cách khác, khổ đau là sự thật phổ quát ở trên đời. Chính vì vậy, tất cả mọi người đều mưu cầu hạnh phúc.
Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã nhìn thấu rõ được sự thật ấy cho nên đã viết trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ (The United States Declaration of Independence) rằng: “Chúng tôi giữ gìn những sự thật hiển nhiên này, rằng tất cả con người đều được tạo ra bình đẳng, rằng họ được Tạo Hóa ban cho một số quyền bất khả chuyển nhượng, rằng trong số những quyền này là quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc.”

Nhưng, hạnh phúc là gì? Bách Khoa Từ Điển Mở (www.en.wikipedia.org) viết rằng, “Hạnh phúc là trạng thái tinh thần phức tạp và đa dạng gồm nhiều cảm xúc tích cực, từ sự thỏa mãn đến niềm vui tột cùng. Nó thường gắn kết với những kinh nghiệm tích cực trong cuộc sống, như đạt được các mục đích, dành thời gian ở với những người yêu thương, hay tham dự vào các hoạt động vui thích. Tuy nhiên, hạnh phúc cũng có thể khởi sinh một cách tự nhiên mà không cần bất cứ nguyên nhân bên ngoài nào rõ rệt.”

Hạnh phúc liên kết chặc chẽ với sự khỏe mạnh và sự hài lòng cuộc sống nói chung. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng những người hạnh phúc thì có khuynh hướng có sức khỏe thể chất và tinh thần tốt hơn, có nhiều mối quan hệ xã hội mạnh mẽ hơn, và có sự phục hồi tốt hơn khi đối diện với sự khó khăn, theo Bách Khoa Từ Điển Mở.

Trong tiểu luận “What Jefferson really meant by the ‘Pursuit of Happiness’” [Jefferson thực sự muốn nói gì qua việc ‘Mưu Cầu Hạnh Phúc’] được đăng trên trang https://news.wm.edu hôm 22 tháng 6 năm 2026, nữ ký giả người Mỹ Susan Corbett trích nhận định của Giáo Sư Adam Potkay dạy về Nhân Văn Học tại Đại Học William & Mary ở Virginia, nói rằng có hai loại hạnh phúc. Thứ nhất, thường được gọi là hạnh phúc vui thích (hedonic happiness – hedone là chữ Hy Lạp có nghĩa là sự hài lòng, vui thích), để chỉ cho sự vui thích và các cảm giác tích cực. Nó là loại hạnh phúc liên kết với các kinh nghiệm vui thích như thức ăn, tình yêu, kỳ nghỉ tuyệt vời, thành công nghề nghiệp. Đây là loại hạnh phúc mà hầu hết mọi người sử dụng ngày nay muốn nói đến. Loại thứ hai, hạnh phúc tinh thần thiện lành (eudaimonic happiness – eudaimonia là tiếng Hy Lạp, eu có nghĩa là tốt, daimon là tinh thần). Nó không chỉ nói đến cảm giác hài lòng tạm thời mà còn nói đến cuộc sống thịnh đạt của con người. Theo Giáo Sư Adam Potkay, triết gia Aristotle cho rằng cuộc sống thịnh đạt có nghĩa là cuộc sống được biểu thị bởi đức hạnh, trí tuệ và phục vụ tha nhân. Hạnh phúc không chỉ là điều con người cảm nhận; nó còn là điều mà con người nỗ lực đi tới qua sự trao dồi nhân cách của mình.

Quyen muu cau hanh phuc 02

Có cơm ăn áo mặc là hạnh phúc rồi. (Photo: www.pixabay.com)


Ở đây, chúng ta thấy hạnh phúc hàm ngụ trong hai lãnh vực sinh hoạt của con người: thể chất và tinh thần. Với thể chất, hạnh phúc là những gì con người cảm thọ được một cách hài lòng hay vui thích từ kinh nghiệm thường nghiệm, như ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc, yêu thương, đi chơi. Loại hạnh phúc này, dĩ nhiên, không tồn tại lâu dài, vì những hành động và cảm thọ ấy là tạm thời. Chúng xảy ra, tồn tại và biến mất. Trong đời người, con người đã từng trải nghiệm vô số những cảm giác vui thích ấy. Nhưng ngược lại, con người cũng trải qua rất nhiều cảm giác đau khổ, thất vọng. Không một người bình thường nào trong đời mình không nếm phải hai cảm thọ khổ và lạc đó.

Loại hạnh phúc thứ hai thuộc lãnh vực tinh thần. Đó là hạnh phúc tinh thần thiện lành như Giáo Sư Adam Potkay đã nói ở trên. Điểm quan trọng trong loại hạnh phúc này là tinh thần thiện lành, tức là thiện tâm. Loại hạnh phúc này được xây dựng trên đức hạnh, trí tuệ và phục vụ tha nhân, như triết gia Aristotle đã nói. Hạnh phúc thiện lành, như vậy, dường như gần gũi với quan điểm về hạnh phúc của Đông phương, nơi mà chủ trương rằng cuộc sống có thiện tâm là nền tảng cho mọi hạnh phúc hay phúc lạc trường cửu đối với con người. Thiện tâm chính là đức hạnh, là trí tuệ, là lòng vị tha (phục vụ tha nhân).  

Theo đó, hạnh phúc đích thực không chỉ đơn thuần là cảm giác hài lòng hay thỏa mãn thường tình, mà còn phải có nội hàm đức hạnh, trí tuệ và phục vụ tha nhân. Nếu thiếu các đức tính như đức hạnh, trí tuệ và lợi tha thì hạnh phúc chỉ còn là thứ cảm giác thỏa mãn phàm tình và tạm thời chứ không phải là mục đích cao cả và trường cửu của đời người. Giáo Sư Adam Potkay nói rằng, đối với triết gia Aristotle, “cuộc sống thịnh đạt được xây dựng qua hành động đạo đức và trách nhiệm công dân.”

Điều đó cũng chính là tâm ý của tác giả Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ là Thomas Jefferson (1743-1826). Theo Susan Corbett, Giáo Sư Adam Potkay cho biết rằng trong lá thư gửi các cựu sinh viên của Đại Học William & Mary và nhà ngoại giao Mỹ William Short vào năm 1819, Jefferson đã viết rằng, “… thừa nhận rằng sự vui thích là mục tiêu, nhưng đức hạnh là nền tảng của hạnh phúc thật sự.” Trong lá thư đó, Jefferson còn viết thêm rằng, “Mưu cầu hạnh phúc không phải là chỉ mưu cầu sự vui thích không thôi.”

Tư tưởng về quyền mưu cầu hạnh phúc của con người mà Jefferson đã viết trong Tuyên Ngôn Độc Lập được ảnh hưởng từ lý thuyết về “quyền tự nhiên” (natural rights) mà trong đó có “quyền sống, tự do và tài sản” (the rights of life, liberty and property) của triết gia người Anh John Locke (1632-1704), là tư tưởng gia có ảnh hưởng lớn của Thời Đại Khai Sáng -- Age of Enlightenment, cũng gọi là Thời Đại Lý Trí (Age of Reason) vào cuối thế kỷ 17 và thế kỷ 18 ở Châu Âu -- và cha đẻ của Chủ Nghĩa Tự Do (Liberalism) ở Châu Âu, theo Susan Corbett. Từ quan điểm của Locke về “quyền tài sản,” Jefferson thay đổi thành “quyền mưu cầu hạnh phúc.” Đó là sự chuyển đổi độc đáo trong tầm nhìn của Jefferson đối với nhu cầu hạnh phúc phổ quát của con người ở mọi nơi và mọi thời đại. Nó biến từ nhu cầu vật chất tầm thường, mang tính vị kỷ của cá nhân, sang nhu cầu tinh thần cao cả, mang tính thăng hoa phẩm đức con người và lợi ích cho người khác.

Theo Susan Corbett, Giáo Sư Adam Potkay còn đi xa hơn nữa khi cho rằng Jefferson đã nối kết hạnh phúc cá nhân với đức hạnh và trách nhiệm công dân. “Rằng, quan điểm của Jefferson về hạnh phúc là không thể tách rời với đức hạnh công dân. Một xã hội tự do dựa vào các công dân đức hạnh có thể tự quản trị chính họ. Tự do có thể tồn tại nếu các công dân sở hữu phẩm chất đạo đức cần thiết để sử dụng nó một cách có trách nhiệm.”

Gắn hạnh phúc vào “đức hạnh công dân” là cách Jefferson đưa tinh thần hạnh phúc cá nhân vào hiện thực xã hội để có thể xây dựng mối tương quan, tương duyên bất khả phân giữa cá nhân của từng người dân với toàn thể quốc gia dân tộc. Hạnh phúc của từng công dân chính là sự thịnh vượng của toàn đất nước, toàn xã hội. Nếu công dân thiếu đức hạnh, tức thiếu phẩm chất đạo đức thì cả quốc gia sẽ không thịnh trị, không tồn tại lâu dài. Đây là hệ luận rất quan trọng để xây dựng cơ đồ vững chắc cho đất nước Hoa Kỳ ngay từ những ngày đầu dựng nước.

Mỗi người dân là một viên gạch tạo thành ngôi nhà quốc gia. Quốc gia tự nó chỉ là một danh từ rỗng nếu không có sự hiện hữu thật sự của từng người dân. Nhưng nếu mỗi viên gạch chỉ là một cục đất thiếu chất lượng và không được nung chín đúng mức thì sẽ làm cho ngôi nhà quốc gia đó sớm sụp đổ. Tương tự như vậy, nếu mỗi công dân không có phẩm chất đạo đức, thiếu đức hạnh, và chỉ toàn là những người không có trí tuệ, không có tinh thần phục vụ tha nhân, chỉ biết vị kỷ, tự lợi và tham nhũng, chỉ biết khoác lác, khoe khoang, thì sẽ làm cho đất nước ngày càng lụn bại và suy vong.

Nhưng, nếu mỗi người dân đều tự mình mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình và theo cách của riêng mình, mà bất cần đến hạnh phúc của những người khác chung quanh thì hệ quả thấy rõ là sẽ tạo ra một tình cảnh hỗn loạn, bất ổn và khủng hoảng cho xã hội. Cho nên, song song với quyền mưu cần hạnh phúc, Jefferson nêu ra một nhu cầu hệ trọng khác. Đó là trách nhiệm của mỗi người dân và dĩ nhiên, có cả trách nhiệm của chính quyền.

Đối với cá nhân, trách nhiệm đi kèm với việc mưu cầu hạnh phúc là việc mưu cầu hạnh phúc ấy không vượt qua giới hạn của đạo đức, không vi phạm pháp luật, không làm tổn hại đến người khác, không nhắm mắt bịt tai trước những bất hạnh và đau khổ của tha nhân mà phải có tinh thần giúp đỡ và phục vụ mọi người. Nếu một người chỉ vì hạnh phúc của riêng mình mà dùng trăm phương ngàn kế để bóc lột, lừa đảo, chèn ép, đe dọa, hãm hại người khác thì đó là hành động thiếu trách nhiệm, mất đạo đức, và phạm pháp. Những người như thế cần phải bị luật pháp quốc gia chế tài.

Đối với chính quyền, trách nhiệm bảo vệ quyền mưu cầu hạnh phúc của người dân thì rất bao quát, bởi vì việc mưu cần hạnh phúc của công dân bao gồm hai lãnh vực, thể chất và tinh thần. Như đã nói ở trên, về thể chất, hạnh phúc là sự thỏa mãn những cảm giác vui thích trong sinh hoạt hàng ngày, như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đi lại, sức khỏe, tình yêu, v.v…; về tinh thần, hạnh phúc là sự thành đạt trong việc trao dồi đức hạnh, phát huy trí tuệ và phát khởi tâm phục vụ tha nhân. Như vậy, vai trò bảo vệ quyền mưu cầu hạnh phúc của chính quyền là làm sao hỗ trợ cho người dân có điều kiện khả dĩ để có thể có được những hạnh phúc thể chất và tinh thần, đồng thời bảo vệ an toàn cho người dân trong việc mưu cầu hạnh phúc và ngăn chận hay trừng phạt các trường hợp làm tổn hại đến hạnh phúc của người khác. Cung cấp thực phẩm, thuốc men, bệnh viện, y tế, trường học, phương tiện lưu thông, và an ninh, v.v.. cho người dân là những điều cụ thể mà chính quyền có thể làm để bảo vệ quyền mưu cầu hạnh phúc cho mọi công dân.

Đó có thể chỉ là những lý thuyết. Trên thực tế xã hội ngày nay, quyền mưu cầu hạnh phúc của người dân ngày càng bị giới hạn. Chẳng hạn, khi chính quyền cắt giảm các tài trợ cho các đại học, các trường trung tiểu học; khi chính quyền cắt giảm tài trợ cho việc nghiên cứu y khoa; khi chính quyền cắt bỏ tài trợ đối với các cơ quan nhân đạo trong và ngoài nước Mỹ; khi chính quyền cắt giảm tài trợ cho Medicare, Medicaid; khi giá thực phẩm và xăng dầu ngày càng leo thang, lạm phát phi mã, v.v… thì việc mưu cầu hạnh phúc của người dân càng khó khăn, càng bế tắc hơn!  Còn nữa, khi sự dối trá lên ngôi, thật giả lẫn lộn, đạo đức xuống dốc, lòng người hiểm ác, tâm vị kỷ và tự lợi lấn át lòng phục vụ tha nhân thì việc mưu cầu hạnh phúc tinh thần thiện lành ngày càng khó đạt được.

Nhưng, cho dù thế nào đi chăng nữa, mưu cầu hạnh phúc vẫn là khát vọng muôn thuở của con người. Ở điểm này, chúng ta không thể không thán phục tầm nhìn cao xa và rộng lớn của một trong những vị cha đẻ của nước Mỹ: Thomas Jefferson.
  

Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
Trước đây vài năm, nghe Thư trở bệnh, tôi có viết một bài, ấy là tình bạn, dù xa cách nhau nhưng đều còn chân đi trên mặt đất. Nay Thư đi thật rồi, xin gởi một nén nhang từ biệt. Trước khi viết tiếp, tôi thử gõ vào AI, anh thầy Mo này có nhận xét về nhà thơ họ Phạm như sau: “Phạm Thiên Thư là một hiện tượng khá đặc biệt của thi ca Việt Nam hiện đại. Ở ông có sự hòa quyện hiếm thấy giữa chất lãng mạn của thơ tình và chiều sâu thiền học của Phật giáo. Chính điều đó làm cho thơ ông mang vẻ “nửa đời nửa đạo” — vừa gần gũi, mộng mơ, vừa phảng phất suy tư siêu thoát.
Có một thứ mệt mỏi sâu hơn mọi thứ mệt mỏi khác: mệt vì phải sống giữa những điều chưa ngã ngũ. Con người chịu được nghèo đói, chia lìa, chiến tranh, lưu đày. Nhưng lại không chịu đựng nỗi một câu hỏi chưa có lời giải đáp, một khoảng trống chưa được lấp, một sự thật còn đang mở. Người ta không quen với sự bỏ ngỏ. Muốn một kết luận. Một nguyên nhân. Một thủ phạm. Một giải đáp. Một nhãn hiệu dán lên mọi sự, để từ đó có thể yên tâm mà đi tiếp. Vì vậy người ta yêu ý kiến. Cầm nó trên tay như cầm một ngọn đèn. Nhưng lắm khi ngọn đèn ấy không soi sáng được gì. Nó chỉ vẽ ra một vòng sáng nhỏ quanh chân ta, rồi khiến ta tưởng vòng sáng ấy là cả thế giới.
“Nếu bạn còn có thể yêu, hết lần này đến lần khác,” Henry Miller viết, khi đứng bên kia sườn dốc của tuổi tám mươi, “nếu bạn còn biết tha thứ, biết quên, nếu bạn không để mình hóa chua, hóa gắt, hóa cay nghiệt, hoài nghi…thì bạn đã nắm được quá nửa bí mật của đời sống.” Bảy năm trước đó, Bertrand Russell — triết gia lớn của Anh, nhà toán học, sử gia, và giải Nobel — cũng dừng lại ở chính câu hỏi ấy, vào cùng một chặng cuối của đời người. Trong một tiểu luận ngắn, nhan đề Nghệ Thuật Già Đi, viết ở tuổi tám mươi mốt, ông suy tưởng về cách một con người có thể đi trọn hành trình của mình.
Không ai có thể xây cho bạn cây cầu để băng qua dòng sông đời sống. Cây cầu ấy, hoặc do chính bạn dựng, hoặc không có gì cả. Nietzsche viết như vậy khi ba mươi tuổi. Hơn một thế kỷ sau, Seamus Heaney — nhà thơ đoạt Nobel — dặn người trẻ: con đường thật để đi vào và đi qua kinh nghiệm là con đường trung thành với nỗi cô đơn của riêng bạn, với thứ tri thức thầm kín chỉ bạn nghe được tiếng mình trong đó.
Trong trả lời phỏng vấn của tạp chí mạng Da Màu về chuyện “Đọc và Viết & về Văn học Hải ngoại” (28 & 29.8.2025), Bùi Vĩnh Phúc chia sẻ anh yêu sách từ nhỏ nên đã để dành tiền mua sách và đọc đủ thứ. Bên cạnh đó, anh còn đổi sách, báo với bạn bè trong xóm... Hoặc “cất giữ làm của riêng” những báo hoặc tập san có đi thơ, truyện mà anh thích từ “kho” báo chí trong nhà của bố. Khoảng lớp Đệ Ngũ (lớp 8 bây giờ), bằng tiền bố mẹ cho, anh “nướng” hết vào các tiệm bán sách cũ hoặc bán solde (có những quyển rất hay và còn mới) để có một thư viện cho riêng mình. Càng lớn, anh lại càng có thêm điều kiện để thu thập sách mới, sách hay với các thể loại khác nhau. Kể từ năm Đệ Nhị (lớp 11 sau này), anh hướng về đọc sách phi-hư cấu đủ mọi thể loại. Đến thời thanh niên, Bùi Vĩnh Phúc tìm đọc nhiều sách nghiên cứu và phê bình.
Theo thông tấn Polskie Radio S.A. của Ba Lan, hôm Thứ Hai, ngày 4 tháng 5, 2026, Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026 đã được trao cho Ana Blandiana, nữ thi sĩ người Romania. Ana Blandiana – một nữ thi sĩ kiêm nhà bất đồng chính kiến chống cộng người Romania – đã giành chiến thắng tại Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026; giải thưởng này được đặt theo tên của một trong những thi sĩ vĩ đại nhất của Ba Lan trong thế kỷ 20. Sinh năm 1982, nhà thơ Blandiana (tên khai sinh là Otilia Valeria Coman) là đại diện tiêu biểu cho nhóm được gọi là "tân hiện đại chủ nghĩa" (neo-modernists) – một thế hệ thi sĩ xuất hiện vào thập niên 1960, những người đã khước từ học thuyết về nghệ thuật vô sản (proletarian art) và tìm kiếm nguồn cảm hứng từ truyền thống văn học của thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến.
Nó đứng ở cuối hành lang. Lối đi dài, đèn neon trắng, cửa đóng kín hai bên. Nó quay lưng lại, người nhỏ xíu trong bộ đồ rộng thùng thình. Tôi gọi, nhưng không nghe được tiếng mình. Nó lầm lũi bước đi chân không. Một cánh cửa mở ra. Bàn tay to kéo nó vào. Cửa khép chặt lại. Tôi chạy. Tôi gào. Tôi đập cửa. Không động tĩnh. Một cánh cửa khác mở ra. Nó đứng đó, im lặng. Quần lót mặc ngược. Cúi xuống kéo quần lại, rồi nó đứng yên như trời trồng. Vết đỏ trong quần lót loang ra. Tôi lao tới. Không chạm được nó. Một đứa lớn hơn đứng phía sau con bé. Không rõ mặt. Chỉ là chiếc bóng đổ dài lên tường. Tôi hét to. Nó không quay lại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.