Hôm nay,  

Những Viên Sỏi Còn Lại

30/09/202612:48:00(Xem: 194)

Nhớ anh Cung Tích Biền

Cung Tích Biền-Tô Đăng Khoa (1)

Tôi đã đến để xếp một chương trình tiễn biệt. Không ngờ lại được nhìn thấy, qua những viên sỏi người khác đặt xuống, dấu vết rất thật của một người đã thật sự sống giữa chúng ta. Ảnh: 1. Những vòng hoa đưa tiễn. 2. Tô Đăng Khoa với Cung Tích Biền.

 

Khi chị Kim, vợ anh Cung Tích Biền, nhờ tôi điều phối chương trình tang lễ của anh, tôi nhận lời mà không nghĩ nhiều về công việc ấy vì chị và gia đình đã chu đáo thu xếp chương trình tang lễ rồi. Tôi nghĩ chắc cũng chỉ là đứng lên giới thiệu từng người, giữ cho chương trình khỏi trễ, biết lúc nào nên nói, lúc nào nên lui xuống. Tôi  nhẩm đọc những tên những người sẽ phát biểu, tên những bản nhạc, thứ tự chương trình. Những việc rất cụ thể.

Đến khi buổi lễ bắt đầu, tôi mới nhận thấy công việc của mình hóa ra hơi khác.

Tôi đứng ở một chỗ khá lạ. Không hẳn là người trong câu chuyện của anh, cũng không hoàn toàn ở ngoài. Tôi gọi từng người lên rồi ngồi xuống lặng lẽ nghe. Người này kể một chuyện. Người kia nhớ một chuyện khác. Có nhiều điều rất nhỏ, chẳng liên quan gì đến văn nghiệp của Anh. Một dáng người, một lần gặp, một cách cư xử, một chuyện từ nhiều năm trước mà người kể vẫn còn nhớ. Rồi tiếng đàn chen vào. Một bài hát. Lại một người bước lên chia sẽ những mảng ký ức rất riêng của họ về Anh.

Cứ như vậy, tôi bỗng thấy một Cung Tích Biền khác từ từ hiện ra.

Tôi đã biết Cung Tích Biền là một nhà văn lớn trong văn học Việtnam. Điều đó không cần ai trong tang lễ của anh để xác nhận, càng không cần một bài tưởng niệm để nâng lên. Văn chương anh đã ở đây. Tác phẩm đã ở đây. Người đọc và thời gian sẽ làm phần việc của họ.

Nhưng hôm đó tôi gặp một điều khác: Cung Tích Biền đã từng sống thật giữa chúng ta.

Câu ấy nghe rất bình thường.  Đến một đám tang mới thấy nó không bình thường chút nào.

Một nhà văn, sau cùng, rất dễ còn lại thành một cái tên. Tên trên bìa sách, trong thư mục, trong một bài nghiên cứu, hay tên trong một giai đoạn văn học. Chúng ta đọc tác phẩm rồi dựng lại con người từ tác phẩm. Nhưng nhiều người ngồi trong căn phòng hôm ấy đã biết anh trước khi anh trở thành một cái tên như vậy trong trí nhớ người khác. Họ đã uống với anh, nói chuyện với anh, có lẽ đã cãi nhau với anh, thương anh, giận anh, nhìn anh già đi. Họ biết một Cung Tích Biền rất thật và rất người.

Tôi ngồi nghe và chợt nghĩ đến hai chữ thân chứng.

Không chỉ nhân chứng của một thời đại, theo nghĩa đã nhìn thấy những gì xảy ra. Đời anh đã thực sự bị lịch sử đi xuyên qua. Chiến tranh phải một “khoảng trống để ra ngoài” (tựa đề một truyện ngắn của Anh CTB mà nhà văn Đặng Thơ Thơ kể cho chúng tôi nghe hôm tang lễ) để nhà văn quan sát rồi viết về nó. Một thế hệ đã sống trong cơn bão ấy bằng chính thân phận mình, với những mất mát, chia lìa, lựa chọn và những điều không được quyền lựa chọn.

Đi qua một cơn bão như vậy mà còn sống đã khó. Đi qua nó mà không để nó quyết định mình sẽ trở thành người thế nào, có lẽ còn khó hơn.

Tôi không muốn làm cho anh đẹp hơn sau khi anh mất. Người đã mất cũng không cần chúng ta làm việc ấy. Tôi chỉ ghi lại điều mình cảm được khi nghe những người đã sống gần anh nói về anh: lịch sử có thể để lại thương tích, nhưng dường như nó đã không lấy mất nơi Cung Tích Biền một phần rất căn bản — cái tâm thiện lành của một con người.

Có lẽ chính chỗ đó mới khiến tôi nghĩ lại về văn chương của anh.

Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì  đó trở ra.

Tôi không biết có nên gọi cái đó là minh triết hay không. Chữ ấy hơi lớn.

Tôi chỉ biết sáng hôm ấy tôi đã nhìn thấy “nó” qua ký ức của những người khác.

Và lúc ấy tôi mới hiểu thêm về ý nghĩa của việc chị Kim đã nhờ mình làm.

Tôi không phải người điều phối chương trình tang lễ của Anh Cung Tích Biền. Tôi càng không có tư cách ráp những câu chuyện ấy thành một chân dung hoàn chỉnh. Tôi chỉ tình cờ là người đứng ở giữa, trân trọng nghe và xếp từng viên sỏi ký ức mà bằng hữu của anh mang tới, rồi đặt chúng xuống cạnh nhau theo chương trình soạn sẵn của chị Kim.

Tôi thích nghĩ đó là những viên sỏi. Không phải những mảnh ghép.

Mảnh ghép làm ta tưởng rằng nếu thu thập đủ, cuối cùng sẽ ráp xong một con người. Nhưng một đời người đâu thể nào ráp xong được. Một người bạn giữ một Cung Tích Biền. Người vợ giữ một Cung Tích Biền khác. Người đọc lại gặp một người khác nữa trên trang sách. Có những phần chắc đã mất theo những người không còn ở đây. Có những chuyện chỉ một mình anh biết và đã Anh đã mang theo.

Những viên sỏi thì không hứa hẹn như vậy. Chúng chỉ nằm cạnh nhau hôm đó.

Vậy mà nhìn chúng nằm cạnh nhau, mình biết một người đã từng đi qua đây.

Có lẽ đó là điều còn đọng lại trong tôi sâu nhất sau ngày tang lễ.

Chúng ta thường nói một nhà văn để lại tác phẩm. Đúng. Nhưng chưa đủ. Một con người còn để lại những thay đổi rất nhỏ mà sự hiện diện của họ đã gây ra trong đời người khác. Một câu nói khiến cho người nghe vẫn nhớ mải. Một ân tình sâu đậm. Một lần Anh đối xử tử tế mà không màng ai biết tới. Một ánh mắt Anh đang nhắm nghiền. Một nụ cười sảng khoái giòn tan.  Một buổi chiều chẳng có gì quan trọng lúc nó xảy ra, nhiều năm sau bỗng thành thứ không thể tìm lại.

Những thứ này không nằm trong tuyển tập văn chương nào của Anh.

Hôm đó, chúng nằm trong căn phòng tang lễ, trong ký ức rất riêng của từng người thân thương của Anh.

Tôi cảm ơn chị Hoàng Thị Kim đã tin tưởng giao cho tôi một chỗ đứng nhỏ trong ngày gia đình và bằng hữu tiễn anh. Lúc nhận lời, tôi nghĩ mình đến chỉ để giúp xếp một chương trình. Khi ra về, tôi biết mình vừa được chứng kiến một điều khác.

Một đời người đang được những người còn sống nhớ lại. Không đầy đủ. Không ngay ngắn. Mỗi người một phía.

Nhưng thật.

Và giữa những ký ức ấy, tôi thấy văn chương của Cung Tích Biền trở về nơi có lẽ nó đã bắt đầu: không phải ở danh xưng nhà văn, mà ở một con người đã bị cuộc đời làm cho đau, đã đi qua những cơn bão của lịch sử, rồi vẫn cố tìm đường trở lại phần người nhất của mình.

Anh Cung Tích Biền đã ra đi.

Sách còn đó. Chữ còn đó. Những người từng biết anh rồi cũng sẽ lần lượt đi.

Còn buổi sáng ấy, với riêng tôi, chắc sẽ ở lại rất lâu.

Tôi đã đến để xếp một chương trình tiễn biệt.

Không ngờ lại được nhìn thấy, qua những viên sỏi người khác đặt xuống, dấu vết rất thật của một người đã thật sự sống giữa chúng ta.

Tô Đăng Khoa

 

Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.
Trong một tác phẩm cùng tựa đề, Nhà Văn Cung Tích Biền đã có lần từng ước muốn "Không nên có mặt". Tuy nhiên, như một định mệnh, ông vẫn sống, có mặt và phải chứng kiến đầy đủ mặn ngọt cuộc đời suốt hơn 90 năm như một chứng nhân của thời cuộc, của những thăng trầm, ly loạn của đất nước. Cuộc chiến Việt Nam từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp cho tới khi đất nước thống nhất mất 30 năm, thế mà ông văn nghiệp của ông đã kéo dài tới 65 năm. Có thể nói, ông là một nhà văn viết lâu, viết khoẻ và cũng là một chứng nhân giữa cuộc phong ba, khắc nghiệt của nước nhà. Bất kể bạn đồng ý hay không với những gì ông viết, bạn cứ đọc ông bạn sẽ hiểu rõ thân phận lạc loài của con người đứng giữa lằn ranh cuộc chiến. Bao nhiêu người bị chi phối trực hay gián tiếp trong cuộc tranh chấp máu lửa tương tàn, bị cắt đứt gốc rễ với quá khứ, không tìm thấy mục đích ở hiện tại và mơ hồ trước tương lai.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau? Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực.
Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.
Trên thế gian này, không người nào không muốn có được cuộc sống hạnh phúc. Điều này cho thấy một sự thật khó chối cãi rằng là ai cũng đã từng trải nghiệm sự đau khổ trong đời mình! Hay nói cách khác, khổ đau là sự thật phổ quát ở trên đời. Chính vì vậy, tất cả mọi người đều mưu cầu hạnh phúc. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã nhìn thấu rõ được sự thật ấy cho nên đã viết trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ (The United States Declaration of Independence) rằng: “Chúng tôi giữ gìn những sự thật hiển nhiên này, rằng tất cả con người đều được tạo ra bình đẳng, rằng họ được Tạo Hóa ban cho một số quyền bất khả chuyển nhượng, rằng trong số những quyền này là quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc.”
Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.