Hôm nay,  

Những Viên Sỏi Còn Lại

30/09/202612:48:00(Xem: 197)

Nhớ anh Cung Tích Biền

Cung Tích Biền-Tô Đăng Khoa (1)

Tôi đã đến để xếp một chương trình tiễn biệt. Không ngờ lại được nhìn thấy, qua những viên sỏi người khác đặt xuống, dấu vết rất thật của một người đã thật sự sống giữa chúng ta. Ảnh: 1. Những vòng hoa đưa tiễn. 2. Tô Đăng Khoa với Cung Tích Biền.

 

Khi chị Kim, vợ anh Cung Tích Biền, nhờ tôi điều phối chương trình tang lễ của anh, tôi nhận lời mà không nghĩ nhiều về công việc ấy vì chị và gia đình đã chu đáo thu xếp chương trình tang lễ rồi. Tôi nghĩ chắc cũng chỉ là đứng lên giới thiệu từng người, giữ cho chương trình khỏi trễ, biết lúc nào nên nói, lúc nào nên lui xuống. Tôi  nhẩm đọc những tên những người sẽ phát biểu, tên những bản nhạc, thứ tự chương trình. Những việc rất cụ thể.

Đến khi buổi lễ bắt đầu, tôi mới nhận thấy công việc của mình hóa ra hơi khác.

Tôi đứng ở một chỗ khá lạ. Không hẳn là người trong câu chuyện của anh, cũng không hoàn toàn ở ngoài. Tôi gọi từng người lên rồi ngồi xuống lặng lẽ nghe. Người này kể một chuyện. Người kia nhớ một chuyện khác. Có nhiều điều rất nhỏ, chẳng liên quan gì đến văn nghiệp của Anh. Một dáng người, một lần gặp, một cách cư xử, một chuyện từ nhiều năm trước mà người kể vẫn còn nhớ. Rồi tiếng đàn chen vào. Một bài hát. Lại một người bước lên chia sẽ những mảng ký ức rất riêng của họ về Anh.

Cứ như vậy, tôi bỗng thấy một Cung Tích Biền khác từ từ hiện ra.

Tôi đã biết Cung Tích Biền là một nhà văn lớn trong văn học Việtnam. Điều đó không cần ai trong tang lễ của anh để xác nhận, càng không cần một bài tưởng niệm để nâng lên. Văn chương anh đã ở đây. Tác phẩm đã ở đây. Người đọc và thời gian sẽ làm phần việc của họ.

Nhưng hôm đó tôi gặp một điều khác: Cung Tích Biền đã từng sống thật giữa chúng ta.

Câu ấy nghe rất bình thường.  Đến một đám tang mới thấy nó không bình thường chút nào.

Một nhà văn, sau cùng, rất dễ còn lại thành một cái tên. Tên trên bìa sách, trong thư mục, trong một bài nghiên cứu, hay tên trong một giai đoạn văn học. Chúng ta đọc tác phẩm rồi dựng lại con người từ tác phẩm. Nhưng nhiều người ngồi trong căn phòng hôm ấy đã biết anh trước khi anh trở thành một cái tên như vậy trong trí nhớ người khác. Họ đã uống với anh, nói chuyện với anh, có lẽ đã cãi nhau với anh, thương anh, giận anh, nhìn anh già đi. Họ biết một Cung Tích Biền rất thật và rất người.

Tôi ngồi nghe và chợt nghĩ đến hai chữ thân chứng.

Không chỉ nhân chứng của một thời đại, theo nghĩa đã nhìn thấy những gì xảy ra. Đời anh đã thực sự bị lịch sử đi xuyên qua. Chiến tranh phải một “khoảng trống để ra ngoài” (tựa đề một truyện ngắn của Anh CTB mà nhà văn Đặng Thơ Thơ kể cho chúng tôi nghe hôm tang lễ) để nhà văn quan sát rồi viết về nó. Một thế hệ đã sống trong cơn bão ấy bằng chính thân phận mình, với những mất mát, chia lìa, lựa chọn và những điều không được quyền lựa chọn.

Đi qua một cơn bão như vậy mà còn sống đã khó. Đi qua nó mà không để nó quyết định mình sẽ trở thành người thế nào, có lẽ còn khó hơn.

Tôi không muốn làm cho anh đẹp hơn sau khi anh mất. Người đã mất cũng không cần chúng ta làm việc ấy. Tôi chỉ ghi lại điều mình cảm được khi nghe những người đã sống gần anh nói về anh: lịch sử có thể để lại thương tích, nhưng dường như nó đã không lấy mất nơi Cung Tích Biền một phần rất căn bản — cái tâm thiện lành của một con người.

Có lẽ chính chỗ đó mới khiến tôi nghĩ lại về văn chương của anh.

Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì  đó trở ra.

Tôi không biết có nên gọi cái đó là minh triết hay không. Chữ ấy hơi lớn.

Tôi chỉ biết sáng hôm ấy tôi đã nhìn thấy “nó” qua ký ức của những người khác.

Và lúc ấy tôi mới hiểu thêm về ý nghĩa của việc chị Kim đã nhờ mình làm.

Tôi không phải người điều phối chương trình tang lễ của Anh Cung Tích Biền. Tôi càng không có tư cách ráp những câu chuyện ấy thành một chân dung hoàn chỉnh. Tôi chỉ tình cờ là người đứng ở giữa, trân trọng nghe và xếp từng viên sỏi ký ức mà bằng hữu của anh mang tới, rồi đặt chúng xuống cạnh nhau theo chương trình soạn sẵn của chị Kim.

Tôi thích nghĩ đó là những viên sỏi. Không phải những mảnh ghép.

Mảnh ghép làm ta tưởng rằng nếu thu thập đủ, cuối cùng sẽ ráp xong một con người. Nhưng một đời người đâu thể nào ráp xong được. Một người bạn giữ một Cung Tích Biền. Người vợ giữ một Cung Tích Biền khác. Người đọc lại gặp một người khác nữa trên trang sách. Có những phần chắc đã mất theo những người không còn ở đây. Có những chuyện chỉ một mình anh biết và đã Anh đã mang theo.

Những viên sỏi thì không hứa hẹn như vậy. Chúng chỉ nằm cạnh nhau hôm đó.

Vậy mà nhìn chúng nằm cạnh nhau, mình biết một người đã từng đi qua đây.

Có lẽ đó là điều còn đọng lại trong tôi sâu nhất sau ngày tang lễ.

Chúng ta thường nói một nhà văn để lại tác phẩm. Đúng. Nhưng chưa đủ. Một con người còn để lại những thay đổi rất nhỏ mà sự hiện diện của họ đã gây ra trong đời người khác. Một câu nói khiến cho người nghe vẫn nhớ mải. Một ân tình sâu đậm. Một lần Anh đối xử tử tế mà không màng ai biết tới. Một ánh mắt Anh đang nhắm nghiền. Một nụ cười sảng khoái giòn tan.  Một buổi chiều chẳng có gì quan trọng lúc nó xảy ra, nhiều năm sau bỗng thành thứ không thể tìm lại.

Những thứ này không nằm trong tuyển tập văn chương nào của Anh.

Hôm đó, chúng nằm trong căn phòng tang lễ, trong ký ức rất riêng của từng người thân thương của Anh.

Tôi cảm ơn chị Hoàng Thị Kim đã tin tưởng giao cho tôi một chỗ đứng nhỏ trong ngày gia đình và bằng hữu tiễn anh. Lúc nhận lời, tôi nghĩ mình đến chỉ để giúp xếp một chương trình. Khi ra về, tôi biết mình vừa được chứng kiến một điều khác.

Một đời người đang được những người còn sống nhớ lại. Không đầy đủ. Không ngay ngắn. Mỗi người một phía.

Nhưng thật.

Và giữa những ký ức ấy, tôi thấy văn chương của Cung Tích Biền trở về nơi có lẽ nó đã bắt đầu: không phải ở danh xưng nhà văn, mà ở một con người đã bị cuộc đời làm cho đau, đã đi qua những cơn bão của lịch sử, rồi vẫn cố tìm đường trở lại phần người nhất của mình.

Anh Cung Tích Biền đã ra đi.

Sách còn đó. Chữ còn đó. Những người từng biết anh rồi cũng sẽ lần lượt đi.

Còn buổi sáng ấy, với riêng tôi, chắc sẽ ở lại rất lâu.

Tôi đã đến để xếp một chương trình tiễn biệt.

Không ngờ lại được nhìn thấy, qua những viên sỏi người khác đặt xuống, dấu vết rất thật của một người đã thật sự sống giữa chúng ta.

Tô Đăng Khoa

 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.