Hôm nay,  

Sự đời

13/10/202300:00:00(Xem: 3712)
 
Logo cho fb
 
Trung tâm lọc máu, nơi tôi đến “làm việc”, khá qui mô, gồm nhiều nhân viên: văn phòng, tiếp tân, kỹ thuật, lao công dọn dẹp vệ sinh, bác sĩ, trợ lý, y tá… Riêng đội ngũ y tá gồm 6 người, trong số này có hai người cho tôi nhiều ấn tượng nhất:
   
Một anh Mỹ đen cao to như con gấu, chí ít cũng 250 ký, khó đăm đăm, ít khi cười, phát ngôn cộc cằn. Nói chung, thoạt nhìn tôi không ưa nổi, và sợ, tay này lụi kim (mỗi lần 2 mũi, kim to như cây tăm xỉa răng, cách nhau khoảng 2cm, một mũi hút máu ra đưa vào máy lọc chất dơ rồi trả lại cơ thể qua mũi thứ hai. Cứ thế luân lưu hơn ba tiếng), tôi nghĩ, chắc đau xón đái.
   
Một con bé người Phi dong dỏng cao, xinh gái, lễ phép, vui vẻ, dịu dàng.
   
Các y tá luân phiên, chừng 10 ngày vòng xoay lại đến. Ban đầu tôi rất mong con bé sẽ lo cho mình, ngược lại, nơm nớp sợ tên Mỹ đen “tra tấn”.
   
Nhưng sự đời nhiều cái thực không thể ngờ.
   
Con bé dễ thương như thiên thần lại vụng về đến… kinh hoàng. Nó thường lụi kim trật lất, năm lần bảy lượt mới trúng mạch máu, cứ như tay chơi thứ thiệt, thọc trên nạy dưới đâm ngang xỏ dọc. Đau tắt thở!!! Ngược lại, “con gấu” trông bặm trợn lại tuyệt vời, lụi kim chính xác và êm ái nhẹ hơn kiến cắn, thậm chí có lúc tưởng như không.
   
Từ lúc ấy tình cảm tôi xoay 180 độ. Trông chờ đến phiên tên da đen bao nhiêu thì sợ gặp thiên thần bấy nhiêu.
   
Từ chuyện lọc máu, nhỏ, chợt nhớ chuyện xưa, lớn hơn.
   
Hai chuyện tình tiết khác nhau nhưng có cùng mẫu số chung: đau! Một đằng đau thể xác, đằng kia đau tinh thần. Nỗi đau thể xác qua nhanh (nhiều năm qua, cách ngày, hàng ngàn mũi kim đã lụi vào mạch máu, nhưng chỉ đau vài giây rồi thôi). Nỗi đau tinh thần khó xóa. Tuy thời gian có làm nhạt bớt, vậy mà thỉnh thoảng hồi nhớ vẫn nghe nhoi nhói, cảm giác nhoi nhói này chắc chắn sẽ bám theo cho đến ngày xuống lỗ.
   
Thuở trên dưới hai mươi tôi sống khá buông tuồng. Rượu, cà phê, thuốc lá, gái trai nhăng nhít. Rượu? Ngày nào cũng uống, một mình có thể nốc nửa lít rượu trắng Bà Điểm (nổi tiếng nặng đô, hơn cả Vodka của Nga). Các thứ khác của Tây, Tàu, Nhật như Hennessy VS Cognac, Johnnie Walker, Mai Quế lộ, Sakê… tôi thừa sức nốc hết ly này sang ly khác, càng uống càng hưng phấn! Còn bia? Khác chi nước lã, chỉ để giải khát, và để…. xúc miệng cho thơm râu! Cà phê? Ngày bốn cữ, sáng trưa chiều tối, chưa kể cà kê dê ngỗng với bạn bè ở các quán đèn mờ, nhạc nhiếc khuất chìm lướt thướt êm ru kiểu Hầm Gió, Mù U… và chỉ sính đen đậm, đắng như sái thuốc phiện. Thuốc lá? Ngày hai bao Bastos xanh. Mọi thứ khác như Ruby, Captan, Camel… nhẹ quá, rít bao nhiêu điếu mới đã? Thứ có đầu lọc, mùi bạc hà the the đỏm dáng càng chả ra chi, chỉ dành cho bọn công tử học đòi ăn chơi hoặc nhi nữ con nhà… rách! Hoặc nữa, các em cave trong vòng ôm mấy tên GI mắt xanh mũi lõ ở các Night Club xập xình nhạc Disco. Và gái? Tôi không đẹp giai, mắt một mí, răng cải mả vô trật tự, trán hói lơ thơ vài sợi tóc, ốm nhách, đi đứng hấp ta hấp tấp như bị ma rượt (theo mấy ngài thầy bói: số bần hàn cơ cực, không vác thuê gánh mướn cũng xích lô ba gác đổ mồ hôi sôi nước mắt chưa chắc rau mắm đủ no), lại xuất thân hạ lưu, cha mẹ lao động chân tay, quanh năm, dầm mưa dãi nắng nên da dẻ đen đúa sần sùi. Đương nhiên tôi `thừa hưởng tố chất di truyền, cũng đen nhẻm.
   
Tuy ngoại hình rất ư phản mỹ thuật là thế tôi vẫn được tiếng đắt đào. Người sính tử vi bảo tôi có sao đào hoa chiếu mệnh. Riêng tôi, hiểu, chả tướng với số gì, chỉ là tôi đủ khôn để biết, muốn đạt mục đích, điều kiện ắt có và đủ là nói năng tán tỉnh hoặc giả vờ lắp bắp đúng điệu nhát gái, hoặc mồm miệng bôi mỡ trơn tru, dẻo ngọt như kẹo mạch nha, cộng thêm ngón võ lì, dai hơn ghẻ rách! Ban đầu các nàng đỏng đảnh trề môi: không có cửa mô! Nhưng tôi vẫn kiên trì bám trụ tới hơi thở cuối cùng. Riết, các nàng động lòng trắc ẩn (phái nữ vốn nhẹ thể!) để rồi một ngày tay đây em hãy tựa đầu, cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.
   
Vì đắt đào nên tôi hơi chảnh! Chỉ giăng câu thả lưới các nàng mày ngài mắt phượng, vóc dáng cao ráo, đầy đủ lễ bộ tựa các hoa hậu chân dài (nếu có thua cũng chỉ chút đỉnh không đáng kể). Nói chung, đó là những nhan sắc trên trung bình. Nàng nào ngoại hình thường thường bậc trung, tôi chê!
   

Năm mười tám tuổi tôi được cùng lúc hai nàng để mắt xanh. Một nàng đúng chỉ số tôi đề ra. Cuộc tình mặn nồng với đầy đủ cung bậc. Bỗng môt ngày nàng biến mất. Nửa tháng sau tôi mới hay nàng đã xuất giá tòng phu. Tôi đau, mất ăn mất ngủ nhiều tháng! Năm kế thi rớt tú tài, tôi vào lính. Sau bốn tháng quân trường tôi về đơn vị tác chiến với cái cánh gà bên vai. Thường, sau vài tháng hành quân đơn vị về hậu cứ nghỉ dưỡng. Thời gian này bọn lính lác chúng tôi mỗi sáng nếu không đi “rỏn” quanh vòng đai thành phố giữ an ninh cho thiên hạ an hưởng thái bình thì phải tạp dịch, lợp lại mái tôn, sơn quét doanh trại, rửa cầu tiêu, nhổ cỏ ngoài vận động trường… Một hôm tôi cùng tám thuộc hạ do tôi làm tiểu đội trưởng đang hì hục vét lại giao thông hào dọc lối đi dẫn ra cổng, chợt tai nghe tiếng thắng rít nhẹ cùng tiếng động cơ nổ êm. Ngẩng lên, và do phản xạ, tôi thẳng người, đưa cao tay chào đúng lễ nghi quân cách. Trên xe, băng sau, thiếu tá tiểu đoàn trưởng ngồi vắt chân chữ ngũ, ung dung, trên môi ngậm ống vố, mùi khói hap in hap thơm lừng:
   
“Làm tốt nhé, mai tôi cho nghỉ một ngày, mặc sức ăn nhậu.”
   
Bà vợ ngồi bên giục:
   
“Đi thôi, không khéo tới trễ, tiệc tùng toàn tai to mặt lớn, mình tới trễ coi hổng được.”
   
Mải lo chào kính tôi không để ý phu nhân sếp, đến khi nghe giọng quen, tôi giật mình nhìn kỹ. Nàng, người tình thứ nhất của tôi, son môi bóng nhẫy, áo sơ mi trắng, vét tông khoác ngoài, khăn lông quàng cổ, tóc vấn cao, đôi bông tai lấp lánh hai hạt kim cương. Nàng chồm người soi lại dung nhan trong kính chiếu hậu, không thèm nhìn bọn lính chúng tôi!
   
Ôi, nàng đó sao? Con họa mi có đôi cánh xanh mùa đông (trời lạnh, nàng thường mặc áo len xanh) từng thề non hẹn biển, từng trong vòng tay tôi, mắt long lanh ướt, nhõng nhẽo: “Anh ơi, yêu em mãi nhé, đừng một dạ hai lòng, em tự tử cho anh ân hận suốt đời.”
   
Gã tài xế cho xe vọt nhanh theo lệnh thượng cấp. Tôi sững người nhìn theo, lảo đảo muốn ngã. Tên lính đứng cạnh đưa tay đỡ:
   
“Trung sĩ răng rứa, mặt tái xanh, trúng gió à?”
   
Tôi cố trấn tĩnh:
   
“Không có chi, làm lẹ cho xong sớm, còn ra chợ sư đoàn mần vài xị.”
   
Tôi đau hơn bị hoạn, tư nhủ, tối nay phải say một trận nghiêng trời lệch đất cho quên mối hận tình!
     
Nàng thứ hai con nhà giàu, đi học bằng xe hơi có tài xế đưa đón, phải tội nàng có một dung nhan đáng thở dài, vóc dáng phì nhiêu, cao khiêm nhường, cười hở lợi phản cảm. Nàng yêu tôi rất mực. Tôi ỡm ờ, bởi lẽ so với nàng thứ nhất, chẳng khác ví gà với công, yêu nỗi gì! Thời ấy phong trào chạy patin nở rộ, khắp thành phố sân patin mọc lên như nấm. Nhà nàng cũng kinh doanh một sân patin hiện đại rộng thênh thang. Thông thường khách thuê giày có bánh xe của chủ để lướt, riêng tôi, nàng mua tặng một đôi patin bảnh chọe làm của riêng. Khổ nỗi tôi mê người tình thứ nhất, con chim họa mi có đôi cánh xanh mùa đông đỏm dáng, nên vội vả chạy đến nhà nàng với đôi patin cáu cạnh, trộ:
   
“Anh tặng em.”
   
“Cưng mua à?”
   
Tôi vênh mặt:
   
“Phải, đời anh cho được anh cũng cho, sá gì đôi patin.”
   
Nàng cảm động hôn tôi một cái rõ dài, môi mềm, thơm ngọt. Tôi ngất ngư, vượt qua ngay mặc cảm áy náy đã dùng quà của nàng thứ hai tặng lại người tình mặt hoa da phấn!
   
Ngày tôi vào lính, nàng thứ hai chăm chỉ viết năm ba chục lá thư than khóc tỉ tê, thề sẽ không yêu ai đến mãn kiếp. Tôi câm, vì chưa thể quện người tình thứ nhất. Về đơn vị một thời gian, tôi nghe tin nàng thứ hai lấy chồng theo lệnh song thân, nàng vốn dĩ con nhà lành, nào dám trái lòng phụ mẫu! Thế cũng xong.
   
Một hôm nghỉ phép tôi xuống phố, chạm mặt nàng trong quán kem, tay bế con chưa đầy tuổi, nàng lúng túng:
   
“Anh khỏe?”
   
“Khỏe, còn em?”
   
Nàng nhìn sâu vào mắt tôi, giọng trầm, rơm rớm:
   
“Khỏe, nhưng…”
   
Ngập ngừng vài giây, nàng hạ giọng:
   
“Em không quên được anh.”
   
*
 
Người xưa nói không sai: tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
   
Cô bé người Phi dễ thương tựa thiên thần nhưng lụi kim vụng về, đau tắt thở, anh Mỹ đen mặt mày bặm trợn, nói năng cộc cằn, dáng thô kệch như con gấu, nhưng lụi kim chính xác, nhẹ nhàng, êm ru. Và một nàng nhan sắc chim sa cá lặn nhưng thay lòng đổi dạ khó lường, nàng kia dung nhan tựa tiếng thở dài nhưng thủy chung rất mực.
   
Sự đời lắm nỗi đa đoan, sai đúng khó phân!
 
– Khánh Trường
 

Cách đây vài năm, một trung tâm ca nhạc Việt Nam nổi tiếng vùng Little Saigon phải thu hẹp hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Trung tâm này phải dọn văn phòng sang một mặt bằng nhỏ hơn để tiết kiệm chi phí. Một số người đi qua khu vực văn phòng cũ thấy CD, DVD ca nhạc vứt thành từng đống lớn ở phía trước để chờ đem đi đổ. Chẳng ai buồn lấy đem về nhà, dù trước đó vài năm một đĩa nhạc như vậy có thể có giá vài chục đô. Nhìn cảnh tượng đau lòng này, tôi nhớ đến một thời cách đây gần 40 năm, sau 1975 người dân trong nước Việt Nam thèm thuồng được nghe nhạc hải ngoại. Vào thời đó, chỉ có nhạc đỏ, nhạc cách mạng, nhạc ngoại quốc XHCN là được phổ biến chính thức. Người dân Miền Nam nhớ nhạc vàng, nhạc trẻ Âu Mỹ nên tìm nguồn để nghe. Nhạc vàng được nhà nước xếp vào loại văn hóa “phản động”, nhạc Âu Mỹ là “đồi trụy”, cả hai đều bị cấm. Có được một cuốn băng nhạc từ hải ngoại gởi về là một món quà tinh thần quí giá.
Một bức tranh có giá trị của họa sĩ Tây Ban Nha Joaquín Sorolla, từng được báo mất tại Sevilla, nay đã được tìm thấy sau một sự hiểu lầm hy hữu. Theo The Guardian, tác phẩm đã bị một người đàn ông vô tình mang về nhà vì nghĩ rằng đó là đồ bỏ đi. Người nhặt bức tranh là Andrés Hurtado, cư trú tại Murcia nhưng đang cùng gia đình đến Sevilla vào cuối tuần. Khi thấy bức tranh bị bỏ bên đường, ông cho rằng đây là đồ bỏ đi và chỉ chú ý đến chiếc khung mạ vàng.
Giữa lúc ‘peptide’ được tán tụng như “thuốc tiên” mới của phong trào dưỡng sinh Mỹ – từ chống lão hóa, tăng cơ đến “tối ưu hóa” tuổi thọ – tiếng nói thận trọng lại không đến từ giới ‘influencer’ mà đến từ chính các khoa học gia trong lòng FDA. Những người làm khoa học nghề nghiệp tại cơ quan dược phẩm liên bang đang kiên trì nhắc rằng phần lớn các peptide “thời trang” này chưa trải qua thử nghiệm lâm sàng đúng phương pháp, thậm chí một số bị xếp vào diện gây “nguy hiểm đáng kể”.
Một cộng đồng muốn tồn tại lâu dài không chỉ cần chợ Việt, tiệm Việt, lễ hội Việt. Cộng đồng ấy còn cần báo chí Việt, truyền hình Việt, những trang viết bằng tiếng Việt để ghi lại mình là ai, đã đi qua điều gì, và muốn để lại điều gì cho con cháu.
Trong căn bếp thử nghiệm của Believer Meats, mùi gà áp chảo bốc lên rất quen. Chỉ khác một điều: miếng gà ấy không đến từ trang trại hay lò mổ. Nó được nuôi lớn từ tế bào. Một số doanh nhân, khoa học gia và nhà đầu tư tin rằng trong tương lai, một phần thịt trên thế giới có thể được làm theo cách này: không cần nuôi con vật cho lớn, không cần giết mổ, nhưng vẫn có miếng thịt giống thứ người ta quen ăn. Hơn 150 công ty non trẻ đang theo đuổi mục tiêu ấy, với hy vọng dùng sinh học tế bào để giảm bớt gánh nặng môi sinh do nhu cầu ăn thịt ngày càng tăng. Yaakov Nahmias, người sáng lập Believer Meats, nói con người gần như “nghiện” thịt. Thịt gắn với tiến hóa, văn hóa, bữa cơm, tiệc tùng, ký ức. Nhưng trong nhiều thế hệ, nhân loại chỉ lo làm sao có thật nhiều thịt, ít khi tính đủ cái giá đất đai, nước, thức ăn chăn nuôi và khí thải phải trả.
Khoảng 20 triệu người Mỹ đang sống trong nhà lắp ghép (manufactured homes) – loại nhà làm sẵn trong nhà máy rồi đưa tới lắp đặt tại chỗ, thường nằm trong các khu nhà di động ở vùng ven và nông thôn. Dù quen gọi là “mobile home” hay “trailer”, phần lớn những căn nhà này thực ra không “di động”: chi phí tháo dỡ, vận chuyển và lắp lại rất cao, nên chủ nhà hầu như gắn chặt với mảnh đất nơi nhà được đặt xuống. Thông thường, người dân sở hữu căn nhà nhưng thuê phần đất bên dưới từ chủ khu; đôi khi họ cho người khác thuê lại căn nhà, nhưng vẫn đều đặn trả tiền thuê đất.
Nếu sống ở San Francisco, người ta có thể đã quen với cảnh một chiếc taxi không người lái lướt qua đường. Nhưng tại Milton Keynes, một thành phố nằm giữa Oxford và Cambridge, nổi tiếng vì có rất nhiều bùng binh, tương lai lại hiện ra dưới một hình thức khác: những chiếc robot nhỏ chạy trên lề đường, đem thức ăn và hàng tạp hóa đến tận nhà.
Có những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn, những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội. Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau.
Những câu chuyện về cây đàn guitar từ trời Âu Mỹ cho đến mảnh đất Việt Nam hình cong chữ S tưởng như kể không bao giờ hết, càng tôn vinh thêm tính nhân dân của cây đàn huyền thoại này…
Đi qua cổng an ninh phi trường tưởng như là một việc quen tay: tháo giày, lấy máy điện toán ra khỏi túi, bỏ chai nước, trình túi chất lỏng trong bao nhựa trong. Nhưng những luật tưởng như “ở đâu cũng vậy” thật ra không hề giống nhau giữa các quốc gia, thậm chí giữa các phi trường trong cùng một nước. Tại Hoa Kỳ, Cơ Quan An Ninh Vận Tải (TSA) đặt ra các luật lệ an ninh phi trường. Nhưng theo các chuyên viên du lịch, nhiều hành khách thường lầm tưởng luật của TSA có giá trị ở mọi nơi. Khi ra ngoại quốc, những ưu tiên quen thuộc như 'TSA PreCheck', hoặc cách qua cổng an ninh tại phi trường Mỹ, không nhất thiết được áp dụng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.