Hôm nay,  

Cà phê lá me

14/03/202407:53:00(Xem: 3206)
Tạp bút

ca fe

Tôi bắt đầu tập uống cà phê và hút thuốc vào cuối năm lớp đệ nhị, lớp 11 bây giờ. Thật lòng mà nói, lúc đó tôi chẳng thấy ngon lành gì, vừa đắng lại vừa khó thở. Nhưng theo đám bạn, không hút thuốc không uống cà phê là chưa thành “người lớn”, chưa đủ điều kiện qua cổng trường con gái trồng cây si. Cà phê thì tôi uống cà phê sữa, cà phê ít sữa nhiều. Thuốc thì tôi thử qua mấy loại của đám bạn rủ rê như Ruby, Bastos... khét và nặng chịu không nổi. Cuối cùng đành phải chọn loại có đầu lọc, thích nhất là Salem, có vị cay the the củạ bạc hà. Thế mà dần dà trở thành thói quen, thành “nghiện”. Loại thuốc lá Salem có đầu lọc rất được ưa chuộng và thông dụng. Thông dụng đến nổi không biết bao giờ, đã được “phụ đề” theo tiếng Việt, đọc xuôi và đọc ngược: "Sao Anh Làm Em Mệt – Mà Em Làm Anh Sướng"! Điều đáng nói là, những người con gái “tôi yêu và yêu tôi”, đều là những cao thủ cà phê thứ thiệt: phin đen đậm đặc, ít đường! Nên mỗi lần đi cà phê với nàng, nhìn tôi thật tội nghiệp. Vậy mà đã thành bao chuyện kể, bao kỷ niệm mai này...
 
Cà phê Năm Dưỡng
 
Quán Năm Dưỡng nằm trong hẻm đầu đường Nguyễn Thiện Thuật và Hồng Thập Tự, nối liền với đường Lý Thái Tổ. Đây là quán cà phê rất nổi tiếng của Sài Gòn lúc bấy giờ, từ thành phần công nhân lao động đến quân nhân công chức và nhất là sinh viên học sinh. Cà phê ngon hết cỡ, giá cả bình dân, nên khách sắp hàng, ngồi chen chúc, la liệt ra tới mặt đường. Ly cà phê đen đặc sệt với một cây tăm có miếng “bơ” trên đầu, quấy lên sóng sánh và thơm phức, không thể cầm lòng được. Chung quanh cà phê Năm Dưỡng còn có vài hàng gánh cơm tấm, bánh canh, cháo lòng, rất tiện lợi, vừa ăn sáng ăn trưa vừa uống cà phê luôn thể. Thích nhất là tờ mờ 4, 5 giờ sáng, thả bộ ra quán nhâm nhi một cà phê sữa nóng, bập bẹ vài điếu thuốc và lắng nghe:
    “Người ơi, khi cố quên là khi lòng nhớ thêm… Dòng đời là chuỗi tiếc nhớ… Mơ vui là lúc ngàn đắng cay... xé tâm hồn… (Sầu Lẻ Bóng, Anh Bằng) thì cuộc đời “tựa những chiêm bao”. Lại có lời đồn cà phê ở đây, chủ quán có cho chút chất ma-túy gây nghiện. Thực hư thế nào không biết, nhưng có điều cà phê Năm Dưỡng vẫn mãi mãi là bao “chuyện kể” của một Sài Gòn xưa, một thời vang bóng của tuổi trẻ bọn tôi. Nhưng điều làm tôi thích nhất là ở Năm Dưỡng, trên bàn lúc nào cũng để sẵn đường và sữa đặc, tha hồ tự làm một ly cà phê theo ý mà không cần phải gọi xin thêm. Nhất là đối với tôi, hạng uống cà phê ít sữa nhiều! Và đặc biệt là quán cà phê Năm Dưỡng hầu hết khách hàng đều là phái nam. Hiếm hoi lắm mới bắt gặp một “bóng hồng” vào quán. Thêm nữa quán lúc nào cũng ồn ào, nhạc không có gì hấp dẫn và uống cà phê như “chạy giặc”, vì phải nhường bàn cho người khác đang chờ!
 
Cà phê Cheo Leo
 
Nằm vạ ở cà phê Năm Dưỡng được nửa năm thì tôi quen với Duy, cùng trường sư phạm khoa sử, quê ở Trà Vinh. Cùng tuổi nhưng Duy từng trải và thổ địa Sài Gòn hơn tôi nhiều. Hắn không mặn với vị cà phê và không khí của quán Năm Dưỡng. Dù giá vừa túi tiền sinh viên nhưng không được ngồi lâu, ồn ào và nhất là nhạc thì quá đỗi nhạt nhẽo, lê thê. Duy rủ rê tôi đến một quán cà phê khác nổi tiếng cũng không kém, gần đó: quán cà phê Cheo Leo. Nằm sâu trong con hẻm cùng trên đường Nguyễn Thiện Thuật gần góc Phan Đình Phùng. Quán cà phê Cheo Leo đẹp, thanh lịch và hầu như dành cho giới nghệ sĩ, công chức, sinh viên học sinh. Cà phê đặc biệt, loại “cứt chồn” từ Buôn Mê Thuộc được mua về, rang và pha chế tại chỗ. Cà phê được pha bằng vợt lẫn phin, nhưng tôi thích pha bằng vợt hơn. Độ nóng vừa tới, nguyên vẹn còn phin thì đậm đặc thật nhưng đôi lúc phải cho vào thêm nước sôi mới đủ độ nóng. Nhạc chọn lọc, không khí phóng khoáng, lãng mạn và nhất là hai cô con gái xinh đẹp của ông chủ quán. Có lẽ vì những điều này nên một ly cà phê Cheo Leo vượt ngoài túi tiên của bọn sinh viên học sinh nghèo, ở trọ xa nhà. Chỉ lâu lâu một chầu, nhịn ăn bóp bụng, mới tới Cheo Leo một lần để thưởng thức cà phê và hai người đẹp. Cô chị đẹp và ăn mặc sexy hơn cô em, nên lần nào nàng ra tính tiền là khoản tiền “bo” cũng cháy túi biết bao cây si (trong đó có cả tôi). Từ ngày theo Duy chuyển qua quán cà phê Cheo Leo, tôi luôn hụt trước thiếu sau, biết nói dối để mượn tiền bà chủ nhà trọ. Còn nhớ cô chị tên Nguyệt và cô em tên Cầm. Tôi thích nét đẹp và dáng dấp dịu hiền của Cầm nhiều hơn.
    Mỗi lần ghé quán, tôi làm bộ để chờ đợi Cầm ra mới kêu cà phê và cả lúc tính tiền. Đến nỗi những ngày đến quán sau này, Cầm không cần phải đến hỏi mà mang ra cho tôi ly cà phê sữa nóng, cà phê ít sữa nhiều! Cũng may tình trạng “mê cà phê đến thiếu hụt” không kéo dài được bao lâu thì tôi quen với N.T. Lúc đó tôi đang “tập tành”viết kịch cho đài truyền hình Đắc-Lộ. Đây là đài truyền hình nhỏ của tổ chức công giáo, được sự tài trợ của UNESCO nhằm bảo tồn và phát huy những phong tục tập quán giá trị cổ truyền của quê hương, đất nước. Đang theo học khoa sân khấu kịch nghệ trường Quốc Gia Âm Nhạc, N.T làm thêm và có vài vai diễn cho ban kịch của đài truyền hình Đắc-Lộ. Thường khi viết xong một kịch bản, tôi nhờ N.T đọc lại và đánh máy. Những kịch bản được chọn và phát hình, tôi được trả một món tiền nhuận bút khá lớn, đủ để bao bạn bè và tiêu xài cả tháng.  Một lần nhận xong, tôi rủ N.T đi ăn cơm thố Nam Sơn và cà phê quán Cheo Leo:
    “... Thôi thì thôi đừng ngại mưa mau, Đưa nhau ra tới bên cầu nước xuôi. Sông này đây chảy một giòng thôi, Mây đầu sông thẵm tóc người cuối sông..." (1)
    Tiếng hát tha thiết, vời vợi của Thái Thanh vang lên như xô đẩy cả không gian trong quán nhỏ chìm vào tận cùng của nỗi nhớ. Tôi và N.T chọn chiếc bàn gần cuối dãy, mang theo nhiều ánh mắt nhìn của người chung quanh. Với khuôn mặt trái soan đẹp, chiếc cổ thon cao mái tóc dài, N.T luôn thu hút và làm chủ đám đông khi hiện diện. Không phải đợi lâu, Cầm bước ra nhìn N.T chút ngập ngừng và hỏi uống gì. “Ly cà phê đen, ít đường, để đá riêng”, N.T gọi sành sỏi, không cần nghĩ ngợi. Cầm ghi nhận, quay sang tôi cười cười, rồi đi vào trong. Người mang ra không phải là Cầm mà Nguyệt, tóc búi cao với chiếc váy ngắn, thật ngắn nếu cúi xuống thấp có thể nhìn thấy trọn vẹn cả đôi chân dài nõn nà. “Anh đến đây thường xuyên lắm sao? Quán cà phê nghe nhạc hay cà phê ngắm đùi trần?”, N.T cau mày. Chưa kịp phản ứng, nàng đã kéo ghế đứng lên: “Mình đến quán khác, đi anh!” Tôi ngơ ngác, chưa hiểu gì, vội trả tiền (vẫn còn tiếc ly cà phê sữa nóng). “Mình đi đâu đây em?”. “Cà phê ngon nhất Sài Gòn, cà phê lá me!”
 
Cà phê lá me
 
Đó là dãy cà phê vỉa hè nằm dọc theo đường Nguyễn Du, dưới những hàng me rợp bóng. Từ đoạn phía trước tòa án quận 3 kéo dài qua khỏi văn phòng của bà luật sư Ngô Bá Thành, gần đến khúc quẹo vào vườn Tao Đàn. Hầu hết khách hàng là giáo chức, giới văn nghệ sĩ, nhà báo và sinh viên học sinh. Cà phê đủ loại có vợt lẫn phin, gía cả rất ư là bình dân, vỉa hè, vừa vặn túi tiền của mọi người. Đặc điểm nổi bật của cà phê lá me là bạn có thể ngồi “ngâm” một ly cà phê, vài ba bình trà cũng không phiền hà gì ai. Bàn ghế gỗ, nhỏ thấp và có thể tự phục vụ. Buổi trưa trời Sài Gòn nóng như lửa đốt, nhưng nhờ những tán me cổ thụ dọc bên đường, khách cũng thư thả nhâm nhi ly cà phê “đứng gió”. Cả mấy cô thư ký làm trong tòa án quận cũng lấy giờ nghỉ trưa cùng tách cà phê vội. Không ai để ý ai, chỉ tụm ba tụm bốn nhấp từng ngụm cà phê và bàn thảo chuyện bên lề. Hòa quyện vào tiếng cười nói là từng dòng xe cộ chạy rong ruổi trên đường. Tất cả tạo thành không gian âm nhạc của dãy quán cà phê lá me chen lẫn giữa đời. N.T chọn chiếc bàn sát bờ tường chỉ có hai ghế ngồi gỗ thấp. Người chạy bàn là những sinh viên làm thêm, cũng vừa là khách. Ly cà phê đá ít đường cho nàng và cà phê sữa đá, nhiều sữa cho tôi. Cà phê thơm ngào ngạt và rất ngon. Chỉ cần vài ngụm là tất cả giác quan chừng như bùng vỡ, lâng lâng. Ngồi dựa vào tường, nhâm nhi từng ngụm, nhìn N.T hay nhìn bâng quơ cuộc sống đang từng dòng cuốn quanh, thật thú vị, thật “đã”. Thỉnh thoảng có vài cơn gió nhẹ, thổi lan man từng đợt lá me bay rụng phủ mặt bàn, mặt đường và rơi lạc lõng trên tóc người yêu dấu. Khuôn mặt N.T đẹp lại càng đẹp thêm. Tôi có thể nhìn rõ từng sợi chân mày vén khéo, vắt ngang dài khỏi đuôi mắt, từng sợi lông tơ trên hai má của nàng. “Làm gì nhìn em dữ dzậy? Anh uống thử chút cà phê của em đi”, vừa nói N.T vừa đổi vị trí hai ly cà phê. “Đắng quá mà em cũng uống được!” Tôi nhăn mặt. “Anh uống cà phê như người ta ăn chè”, nàng cười, chế nhạo. “Uống ly cà phê của em là tối hết ngủ luôn”. “Hết ngủ thì nhớ em”.  “Nhớ em, anh sợ mấy anh chàng phi công không quân giội bom nát căn gác của anh! Còn em. Không ngủ được thì em làm gì?” “Không ngủ được, thì em nhớ người... dưng. Hổng thèm nhớ anh đâu mà sợ!”
    Cà phê vỉa hè là cả nét văn hóa của người Sài Gòn. Cà phê lá me là cả một “truyền thuyết” thời sinh viên, thời kỳ: “Yêu nhau trong cuộc đời, mơ duyên tình dài gắn bó đôi lời… Ta quen nhau một ngày, thương nhau trọn đời, giữ cho lâu dài (Ngăn Cách – Y Vân)”, của tuổi tôi vừa lớn. Những tháng ngày mơ ước, những bài thơ tình thấm đẫm hương môi, những đợi chờ ngóng cổ, những chuyện đại sự “lấp biển vá trời”... bên ly cà phê có lá me bay bay vương mờ kỷ niệm. Tuổi trẻ của Sài Gòn, tuổi trẻ của thời chiến tranh cùng khắp, tuổi trẻ của những khúc tình ca:
    “Theo em xuống phố trưa nay đang còn chất ngất cơn say, Theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau... (2)
    Hay cả những âm thanh từ quán bar đèn màu khói tỏa phía cuối một góc đường: “As long as I remember, The rain's been comin' down. Clouds of mystery pourin' Confusion on the ground. Good men through the ages, Tryin' to find the sun. And I wonder, still I wonder, Who'll stop the rain (3)
    Cà phê lá me trở thành nơi cà phê “xé lẻ” của tôi và N.T. Dần dà tôi đã tập uống được phân nửa ly cà phê đen đắng và N.T thì “ăn chè” một phần cà phê sữa của tôi. Trong đắng có ngọt và trong ngọt có đắng. Bên ly cà phê lá me mỗi trưa, mỗi chiều có nhau hay chỉ một mình, tôi luôn nhìn thấy cuộc sống vây quanh giữa lá bụi đường. Cái vỉa hè như khung trời mở rộng, hơi thở tình yêu tự tại khoảng không. Có lần N.T đưa tôi tới một quán cà phê cửa kiếng máy lạnh nổi tiếng Sài Gòn với nhóm văn nghệ “khá giả” của nàng: quán cà phê Cái Chùa (La Pagode), góc đường Tự Do và Lê Thánh Tôn. Khách toàn là giai nhân tài tử, chính khách tên tuổi, văn nghệ sĩ đi bằng xe hơi, và giá ly cà phê là cả tuần nhịn đói của bọn sinh viên chúng tôi. Không khí mát lạnh giữa Sài Gòn oi bức, như nhốt kín mọi tiếng động, mọi hơi thở của cuộc sống ngoài kia. Trên đường về: “Lần đầu, đây cũng là lần cuối. Anh sẽ chết ngợp vì ly cà phê thiếu khí trời”, tôi nói với N.T. “Nhìn anh, em biết. Sẽ không có lần nữa, anh đừng giận em”. “Không đâu. Đó là mặt khác, có thật của đời sống thôi!” Sau này với T.H cũng vậy, cao thủ cà phê, phin đen đậm đặc, ít đường và không bao giờ uống có đá. Tính tình mạnh mẽ, bốc đồng T.H thích dầm mưa Sài Gòn để… uống cà phê. Khi thì ngồi co ro dưới tán me và cơn mưa tạt ướt cả vai lưng áo hai đứa. Khi thì chạy tuốt lên quán cà phê Hương gần nhà thờ Tân Định ướt mèm tóc tai quần áo, chỉ để uống ly cà phê, chỉ để ngồi lặng im nghe hơi ấm trong tay và nhìn những sợi mưa giăng giăng phủ mặt đời: “… Mưa có buồn bằng đôi mắt em / Tóc em từng sợi nhỏ / Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh…” (Như Cánh Vạc Bay – Trịnh Công Sơn).
    Những năm tháng bên ly cà phê lá me vỉa hè, tôi học được mọi sự sống trên cuộc đời vô thường này đều cần có tự do và khí trời.  Hạnh phúc, tình yêu cũng không ngoại lệ, cần được nuôi dưỡng bởi bầu trời cao rộng của tự do. Vết cắn của N.T có sâu, có rướm máu bao nhiêu, môi tôi cũng kéo lớp da non theo ngày tháng… Tất cả chỉ còn lại những nếp nhăn tận cùng của kỷ niệm, của dĩ vãng lúc chìm khuất, lúc chập chùng trong giấc mơ xa. Mất mát đôi lúc không phải là những khổ đau. “Ai đưa con sáo sang sông, Để cho con sáo sổ lồng bay xa”, xót xa trách móc phải chăng chỉ là sự ước lệ? Hãy để con sáo bay xa, bay cao trong khoảng trời rộng bao la có thể. N.T lấy chồng khi mới vừa hai mươi, chưa kịp tốt nghiệp trường kịch nghệ. Chồng nàng không phải là mấy anh phi công không quân hằng đeo đuổi, mà một viên chức làm trong bộ ngoại giao. Cuối năm 1974, N.T theo chồng sang Tân Gia Ba (Singapore), bỏ hẳn cuộc chơi.
 
***
 
Gần đây trong nước với hàng loạt quán cà phê khang trang, sang trọng mở ra cùng khắp và phát động chiến dịch “dọn dẹp” hàng quán vỉa hè, nhất là ở Sài Gòn. Đọc tin tôi buồn, thật buồn và nuối tiếc dưng không. Biết rằng thay đổi là quy luật tất yếu của thời đại và vạn vật, nhưng sao lại khó cầm lòng. Có nhiều nỗi khổ đau con người mong không phải gặp, không phải đối diện. Những nỗi khổ đau lấp chìm mọi ước mơ, mọi nhân phẩm của con người. Nhưng cũng có những niềm đau thương nâng cao tâm hồn và mơ ước của chúng ta đến tầm cao khác. Nỗi đau thương trong tình yêu là một! Tất cả sẽ thoáng qua, sẽ cát bụi đời này. Đến nay, mấy chục năm sau, rong ruổi qua bao biển rộng sông dài, tôi vẫn chưa quen uống ly cà phê đen ít đường. Tôi vẫn một đời, sống với ly cà phê sữa nóng, nhiều sữa ít cà phê.Tôi vẫn sống với bao nhiêu cuộc đời đổi mới, sao lòng vẫn cũ kỹ rêu phong. Vẫn nhiều lúc như đang ngồi bên ly cà phê lá me với N.T, với T.H nhìn gió cuốn nghiêng nghiêng ngàn vạn chiếc lá me bay; rồi tất cả chợt lùi dần, chìm sâu vào khoảng không hun hút bụi đời:
    “Giờ đã xa nhau, những kỷ niệm xin vẫy chào, Vùng lá me bay, năm tháng dài thương nhớ ai. Em cố quên đi, thương nhớ làm gì. Tình mình như lá me rơi, trên giòng xuôi biển khơi..."  (4)
 
– Nguyễn Vĩnh Long
 
(1) Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng – Phạm Duy, thơ Phạm Thiên Thư
(2) Vũng Lầy Của Chúng Ta – Lê Uyên Phương
(3) Who’ll Stop the Rain – Creedence Clearwater Revial
(4) Vùng Lá Me Bay – Anh Việt Thanh

 

Cách đây vài năm, một trung tâm ca nhạc Việt Nam nổi tiếng vùng Little Saigon phải thu hẹp hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Trung tâm này phải dọn văn phòng sang một mặt bằng nhỏ hơn để tiết kiệm chi phí. Một số người đi qua khu vực văn phòng cũ thấy CD, DVD ca nhạc vứt thành từng đống lớn ở phía trước để chờ đem đi đổ. Chẳng ai buồn lấy đem về nhà, dù trước đó vài năm một đĩa nhạc như vậy có thể có giá vài chục đô. Nhìn cảnh tượng đau lòng này, tôi nhớ đến một thời cách đây gần 40 năm, sau 1975 người dân trong nước Việt Nam thèm thuồng được nghe nhạc hải ngoại. Vào thời đó, chỉ có nhạc đỏ, nhạc cách mạng, nhạc ngoại quốc XHCN là được phổ biến chính thức. Người dân Miền Nam nhớ nhạc vàng, nhạc trẻ Âu Mỹ nên tìm nguồn để nghe. Nhạc vàng được nhà nước xếp vào loại văn hóa “phản động”, nhạc Âu Mỹ là “đồi trụy”, cả hai đều bị cấm. Có được một cuốn băng nhạc từ hải ngoại gởi về là một món quà tinh thần quí giá.
Một bức tranh có giá trị của họa sĩ Tây Ban Nha Joaquín Sorolla, từng được báo mất tại Sevilla, nay đã được tìm thấy sau một sự hiểu lầm hy hữu. Theo The Guardian, tác phẩm đã bị một người đàn ông vô tình mang về nhà vì nghĩ rằng đó là đồ bỏ đi. Người nhặt bức tranh là Andrés Hurtado, cư trú tại Murcia nhưng đang cùng gia đình đến Sevilla vào cuối tuần. Khi thấy bức tranh bị bỏ bên đường, ông cho rằng đây là đồ bỏ đi và chỉ chú ý đến chiếc khung mạ vàng.
Giữa lúc ‘peptide’ được tán tụng như “thuốc tiên” mới của phong trào dưỡng sinh Mỹ – từ chống lão hóa, tăng cơ đến “tối ưu hóa” tuổi thọ – tiếng nói thận trọng lại không đến từ giới ‘influencer’ mà đến từ chính các khoa học gia trong lòng FDA. Những người làm khoa học nghề nghiệp tại cơ quan dược phẩm liên bang đang kiên trì nhắc rằng phần lớn các peptide “thời trang” này chưa trải qua thử nghiệm lâm sàng đúng phương pháp, thậm chí một số bị xếp vào diện gây “nguy hiểm đáng kể”.
Một cộng đồng muốn tồn tại lâu dài không chỉ cần chợ Việt, tiệm Việt, lễ hội Việt. Cộng đồng ấy còn cần báo chí Việt, truyền hình Việt, những trang viết bằng tiếng Việt để ghi lại mình là ai, đã đi qua điều gì, và muốn để lại điều gì cho con cháu.
Trong căn bếp thử nghiệm của Believer Meats, mùi gà áp chảo bốc lên rất quen. Chỉ khác một điều: miếng gà ấy không đến từ trang trại hay lò mổ. Nó được nuôi lớn từ tế bào. Một số doanh nhân, khoa học gia và nhà đầu tư tin rằng trong tương lai, một phần thịt trên thế giới có thể được làm theo cách này: không cần nuôi con vật cho lớn, không cần giết mổ, nhưng vẫn có miếng thịt giống thứ người ta quen ăn. Hơn 150 công ty non trẻ đang theo đuổi mục tiêu ấy, với hy vọng dùng sinh học tế bào để giảm bớt gánh nặng môi sinh do nhu cầu ăn thịt ngày càng tăng. Yaakov Nahmias, người sáng lập Believer Meats, nói con người gần như “nghiện” thịt. Thịt gắn với tiến hóa, văn hóa, bữa cơm, tiệc tùng, ký ức. Nhưng trong nhiều thế hệ, nhân loại chỉ lo làm sao có thật nhiều thịt, ít khi tính đủ cái giá đất đai, nước, thức ăn chăn nuôi và khí thải phải trả.
Khoảng 20 triệu người Mỹ đang sống trong nhà lắp ghép (manufactured homes) – loại nhà làm sẵn trong nhà máy rồi đưa tới lắp đặt tại chỗ, thường nằm trong các khu nhà di động ở vùng ven và nông thôn. Dù quen gọi là “mobile home” hay “trailer”, phần lớn những căn nhà này thực ra không “di động”: chi phí tháo dỡ, vận chuyển và lắp lại rất cao, nên chủ nhà hầu như gắn chặt với mảnh đất nơi nhà được đặt xuống. Thông thường, người dân sở hữu căn nhà nhưng thuê phần đất bên dưới từ chủ khu; đôi khi họ cho người khác thuê lại căn nhà, nhưng vẫn đều đặn trả tiền thuê đất.
Nếu sống ở San Francisco, người ta có thể đã quen với cảnh một chiếc taxi không người lái lướt qua đường. Nhưng tại Milton Keynes, một thành phố nằm giữa Oxford và Cambridge, nổi tiếng vì có rất nhiều bùng binh, tương lai lại hiện ra dưới một hình thức khác: những chiếc robot nhỏ chạy trên lề đường, đem thức ăn và hàng tạp hóa đến tận nhà.
Có những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn, những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội. Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau.
Những câu chuyện về cây đàn guitar từ trời Âu Mỹ cho đến mảnh đất Việt Nam hình cong chữ S tưởng như kể không bao giờ hết, càng tôn vinh thêm tính nhân dân của cây đàn huyền thoại này…
Đi qua cổng an ninh phi trường tưởng như là một việc quen tay: tháo giày, lấy máy điện toán ra khỏi túi, bỏ chai nước, trình túi chất lỏng trong bao nhựa trong. Nhưng những luật tưởng như “ở đâu cũng vậy” thật ra không hề giống nhau giữa các quốc gia, thậm chí giữa các phi trường trong cùng một nước. Tại Hoa Kỳ, Cơ Quan An Ninh Vận Tải (TSA) đặt ra các luật lệ an ninh phi trường. Nhưng theo các chuyên viên du lịch, nhiều hành khách thường lầm tưởng luật của TSA có giá trị ở mọi nơi. Khi ra ngoại quốc, những ưu tiên quen thuộc như 'TSA PreCheck', hoặc cách qua cổng an ninh tại phi trường Mỹ, không nhất thiết được áp dụng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.