Hôm nay,  

Nhạc Chế

12/04/202400:00:00(Xem: 4582)
Ngày nhỏ chúng tôi căng miệng hát một cách thích thú bài nhạc chế từ bài La Marseillaise, bài quốc ca của Pháp. Tôi thuộc cho tới bây giờ, sau nhiều chục năm tôi vẫn còn hát được. “Thầy đồ ngày xưa quen thói  nuôi móng tay dài / quần trễ tai hồng đỏ đen mực son. Đầu lúc la lúc lắc đảo như lên đồng / được dăm trẻ ghẻ lở quá hủi phong. / Quát lấy điếu, đem bình phóng , bưng cơi trầu. / Nhân chi sơ, người đi trước / ta bảo  phải để vào tai dốt đặc.  Ở trên đầu thầy có cái chi lúc lắc? Búi tó, nó to bằng niêu / tính ghét móng tay hằng cân / thọc luôn trong nách, bật tanh tách hoài / Ngâm thơ thích chí rung đùi”. Nhớ nhưng không chắc có đúng không,  có thể có chỗ không nhớ tôi đã chế ra. Nhạc chế cũng như ca dao không bao giờ có tên tác giả. Không biết đây là một bài nhạc chế để chọc quê chính quốc lúc đó đang cai trị Việt Nam hay đùa chơi với các thầy đồ của một anh học trò không thích tới trường.

Nhạc chế thường là để mua vui vô thưởng vô phạt. Bản Love Story quá phổ thông, ai trong chúng ta cũng biết đó là một bản tình ca lãng mạn. Nhưng một ông, có lẽ là dân ghiền thuốc lá, đã chế ra như ri. “Biết nàng thèm thuốc lá / Tôi có thuốc lào, mời nàng tức tốc / Nàng đòi thuốc lá, không hút thuốc lào, không hút thuốc lào vì nàng quý phái / Mặc nàng quý phái tôi vẫn hút hoài mịt mùng khói thuốc / Ôi điếu thuốc lào / Thế rồi nàng vã quá, nàng đành hút ké, ôm cái điếu cầy nàng ngồi bó gối / Nàng ngồi bó gối môi mắt mơ màng miệng nàng bốc khói / Miệng nàng chúm chím, sương khói quanh người lần đầu quá đã / Ôi điếu thuốc lào!”

Tôi vốn mê bản nhạc này nên nghe bản nhạc chế thấy tội cho hai tác giả Francis Lai và Carl Sigman, một ông làm nhạc, một ông viết lời. Hai ông này ở xa, chẳng biết có còn thở trên cõi đời này không nữa, có tội cũng chẳng gửi qua nỗi lòng mình cho hai ông được. Thôi thì nói chuyện gần hơn một chút.
Tôi rất thích bản “Thuyền và Biển” thơ Xuân Quỳnh, nhạc Hữu Xuân. Đây là một bài thơ hay của nhà thơ vắn số. Có lẽ vì bài thơ quá hay nên có tới hai nhạc sĩ phổ nhạc. Nhạc sĩ Hữu Xuân và Phan Huỳnh Điểu. Tôi thích bài của Hữu Xuân do Diễm Liên hát. Bản nhạc chế như sau: “Chỉ có tiền mới hiểu / Vợ yêu ta nhường nào / Chỉ có vợ mới hiểu / Tiền lương ta là bao. / Những ngày đưa chậm lương / Vợ mặt mày cau có / Những ngày đưa chậm lương / Tiền chi tiêu thật khó. ? Nếu lỡ tiêu hết rồi / Vợ có còn êm ái? / Nếu lỡ tiêu thật rồi / Tiền lương ta ai lấy?”

Nhạc chế thường để mua vui khơi khơi như vậy nhưng nhạc chế nhiều khi cũng ôm ấp nỗi niềm. Khi còn bị nhốt trong trại tù cải tạo, tôi cũng đã chế nhạc. Ngày đó, sau những giờ lao động mệt nhọc, buổi tối chúng tôi chỉ muốn nghỉ ngơi. Nhưng cơm nước xong là những giờ họp tổ, sinh hoạt nhà, học tập kiểm điểm. Cuối cùng là căng miệng lên hát. Bài hát phổ biến là “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây”, thơ Phạm Tiến Duật do Hoàng Hiệp phổ nhạc. Hầu như đêm nào cũng leo lên Trường Sơn nên thấy ớn bà chè luôn. Một đêm, trằn trọc không ngủ được, tôi chế bản nhạc này, vừa để chọc quê ông bạn già nằm cạnh có cô bồ trẻ, vừa để tâm sự với chính mình.  Cùng đứng ngắm chung một vầng trăng / hai đứa ở hai đầu xa thẳm. /  Đường ra về mùa này đẹp lắm. / Người bên đông nhớ người bên tây. /  Ở bên đông anh ăn, anh ăn khoai sắn hơi nhiều, con đường cải tạo khó khăn gập ghềnh cho đời anh nát. / Hết rắn rồi anh bắt cóc anh ăn. / Còn bên tây em sống vẫn phây phây / hết ăn rồi lấy xe đi tìm kép / biết rằng em bắt được kép lạ / chắc em quên đời có anh rồi. / Em lên xe trời đổ cơn mưa / Chiếc gạt nước xua đi nỗi nhớ / Anh gánh nước nắng về rực rỡ / Chiếc thùng to nặng trĩu vai xương. / Từ bên anh đưa sang bên em / Những cơn sầu nhớ nhung dài vạn kiếp / Biết rằng em bắt được kép lạ / Chắc em quên đời có anh rồi!.

Trí nhớ tôi thật tệ. Tác giả không chắc còn nhớ đúng được “tác phẩm” của mình. Bài này không theo “truyền thống” của nhạc chế là không có tác giả. Một bài khác cũng có tác giả đàng hoàng. Bản nhạc rất nổi tiếng: “Hà Nội Mùa Này Vắng Những Cơn Mưa” của Trương Quý Hải. Năm đó Hà Nội lụt, “phố cũng như sông”. Nhiều người có máu tếu cao độ đã đổi tên Hà Nội thành Hà Lội! Có hai người đã chế bản nhạc này. Điều ngộ nghĩnh nằm ngay trong tên của bản nhạc. Hà Nội vắng những cơn mưa mà mưa thối đất. Hai anh Trương Công Sáng và Trần Chí Hiếu lội mưa ngán quá bèn nảy ra ý chế bài hát của bạn. Hai anh vốn thân tình với tác giả Tương Quý Hải. Hứng đã có, họ “sáng tác” rất nhanh. Anh Trương Công Sáng cho biết: “Ngày ấy Hà Nội bị ngập, mình và Hiếu sau khi lội nước tới cơ quan thấy ai cũng xôn xao về việc ngập lụt nên Hiếu mới nảy ra ý tưởng “Chế lời bài hát đi anh”. Tôi ngại bản quyền, Hiếu lại bảo: “Sợ gì, lôi bài ông Hải ra chế cho lành!”. Chúng tôi sáng tác và hoàn thiện cũng rất nhanh, chỉ khoảng 30 phút. Khi anh Hải đến chúng tôi cho nghe thử. Chỉ thấy anh vừa nghe vừa vỗ đùi đen đét khoái chí”. “Hà Nội mùa này phố cũng như sông / Cái rét đầu đông chân em run ngâm trong nước lạnh / Hoa sữa thôi rơi, em tôi bơi cả chiều trên phố / Đường Cổ Ngư xưa, ngập tràn nước sông Hồng / Hà Nội mùa này chiều không có nắng / Phố vắng nước lên thành con sông / Quán cóc nước dâng ngập qua mông / Hồ Tây, giờ không thấy bờ / Hà Nội mùa này lòng bao đau đớn / Ta nhớ đêm nao lạnh đôi tay / Cho đến đêm qua lạnh đôi chân / Giờ đây lạnh luôn toàn thân / Hà Nội mùa này phố cũng như sông / Cái rét đầu đông chân em thâm vì ngâm nước lạnh / Hoa sữa thôi rơi, em tôi bơi cả chiều trên phố / Đường Cổ Ngư xưa, ngập tràn nước sông Hồng / Hà Nội mùa này người đi đơm cá / Phố vắng nước lên thành con sông / Quán cóc nước dâng ngập qua mông / Hồ Tây tràn ra Mỹ Đình / Hà Nội mùa này lòng bao đau đớn / Ta nhớ đêm nao lạnh đôi tay / Cho đến đêm qua lạnh đôi chân / Giờ đây lạnh luôn toàn thân”. Tác giả bài hát chính quy Trương Quý Hải nói về đứa “con lai” của mình: “Phải nói là tôi thật bất ngờ về sự sáng tạo của các bạn trẻ bây giờ. Và cũng đúng như Sáng nói, tôi cũng bị các bạn trẻ làm cho phải cười ra nước mắt. Mỗi bài phù hợp với một ngữ cảnh, không thể đem ra so sánh. Bài hát chế thì phù hợp với cài ngày lụt lội đó. Trong cái khó khăn có một tiếng cười chia sẻ, để quên đi cái vất vả, để tìm thấy cái lạc quan thì bài hát chế cũng có giá trị riêng và hướng tới một đối tượng riêng”.

Nhạc chế cũng có đời sống riêng của chúng. Đó là một thứ văn nghệ dân gian, được phổ biến rộng rãi chỉ bằng truyền khẩu giúp cho mọi người có được những giây phút giải trí. Trên thực tế lời của các bản nhạc chế đi ngay vào sự kiện, không vòng vo tam quốc, thấm ngay vào lòng người. Đó là những lời kề cận của người sống trong cùng một hoàn cảnh, chung một nhịp đập của con tim. Dân miền Nam đã trải qua cuộc đổi đời mãnh liệt vào tháng 4/1975. Nhạc chế không bỏ qua biến cố đau thương này.

Bài “Túp Lều Lý Tưởng” của Tôn Nữ Trà Mi, một bút danh khác của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, là bài hát quen thuộc của dân miền Nam. Đôi song ca Hùng Cường - Mai Lệ Huyền đã làm mưa làm gió với bài này trên truyền thanh truyền hình trước 1975. Khi Sài Gòn được “giải phóng” bản nhạc chế đã phát hết tác dụng. Dân Sài Gòn nghe mà mát bụng. “Từ ngày giặc Mỹ vô đây mình cất nhà lầu / Từ ngày giặc Mỹ vô đây mình sắm xe hơi / Từ ngày giặc Mỹ vô đây mình sắm Honda / Lâu lâu mình sắm cái lò ga, lâu lâu mình sắm cái đồng hồ / Dần dần mình sắm sắm luôn người yêu / Từ ngày giải phóng vô đây mình bán nhà lầu / Từ ngày giải phóng vô đây mình bán xe hơi /

Từ ngày giải phóng vô đây mình bán Honda
/ Lâu lâu mình bán cái lò ga /  lâu lâu mình bán cái đồng hồ / dần  dần mình bán bán luôn cái cầu tiêu / Đó là lý tưởng của bác và của anh / anh mang vào trong Nam / Bắt người dân nghèo phải đói khổ phải lầm than”.

Dân chúng Sài Gòn ngày đó có nghề “chà đồ nhôm”. Nhìn quanh nhà có chi mại được là khuân ra chợ trời. Khách hàng là những anh bộ đội “giải phóng”. Còn chi cay cú hơn là dùng ngay bài “Giải Phóng Miền Nam” chế thành giải phóng đồ nhà. Giải phóng vào đây, chúng ta cùng bán hết ráo / Còn cái cát xét cũng ra chợ cũ bán nốt / Ôi! ti vi, máy may nhà mình xài mấy đời: đem bán cho bộ đội kiếm tiền / Đây bếp ga, quạt máy / Kia quần tây, sơ mi cứ vậy mà chúng ta đem ra bán dần”.

Bán mãi cũng hết, dân miền Nam đã phải trải qua thời kỳ đói vàng mắt sau ngày “giải phóng”. Ông Trần Long Ẩn là nhạc sĩ của phía bên thắng trận nhưng không thắng nổi lòng dân. Trần Long Ẩn có bài ca rất nổi tiếng, sau 30/4 được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông, bài “Tình Đất Đỏ Miền Đông”. Không bao lâu sau, bài hát đỏ này được chế lời, nói lên nỗi bực dọc của người dân đói rạc người. “Ai đã ăn mì và khoai giá rẻ / Ăn mấy bữa thì mặt mũi xanh lè / Để heo ăn thì heo mau lớn / Cho người ăn thì… mau sớm vô nhà thương / Ai đã ăn mì và khoai giá rẻ / Ăn mấy bữa thì bị ghẻ tưng bừng / Ghẻ tới lưng rồi… chui qua mông… đít / Vô nhà thương ngồi… xin thuốc đem dzìa xoa / Tổ Quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá! / Nhà nước ơi, sao ăn độn hoài hoài / Từ giải phóng vô đây, không thấy mặt hột cơm …”

Chuyện ăn độn, khi thì khoai sùng, khi thì sắn nổi gân máu, khi thì bột mì mốc, khi thì bo bo là chuyện tôi đã từng cùng đồng bào tôi trải qua. Bài “Gia Tài Của Mẹ” của Trịnh Công Sơn được cho dính đầy khoai sắn.

Một ngàn năm ta đuổi thằng Tàu / Một trăm năm ta đuổi thằng Tây / Hai mươi năm đuổi Mỹ từng ngày / Gia tài của mẹ: gạo độn ngô khoai / Gia tài của mẹ: gạo mốc dài dài / Dạy con đeo răng sắt mà nhai / Dạy con mua thuốc đau dạ dày / Ăn sắn con thành chai / Ăn sắn tiêu hình hài”.

Bản “Lên Đàng” của Lưu Hữu Phước là một bản nhạc hùng thường được hát trong những dịp họp mặt của giới trẻ, nhất là trong các sinh hoạt của Hướng Đạo. Bản nhạc có từ thời kháng chiến, thời mà tác giả bản nhạc say sưa với các phong trào thanh niên. Bản nhạc chế cũng “lên” nhưng là lên tàu vượt biên. “Nào anh em ta cùng nhau mua ghe đóng tầu / Kiếm thuyền 3 bloc /  Ta cùng vượt biển bái bai quê hương rủ nhau qua Mỹ lưu đày / Đoàn ta chen vai sợ chi công an, biên phòng…”

Cái thời mà trong đầu mỗi người dân đều có một ông quan xưa rồi, thời nay trong đầu mỗi người dân đều có một chiếc ghe. Có tiền thì chạy đôn chạy đáo mua một chỗ ngồi trên những con thuyền ra khơi. Không có tiền thì canh me cốt sao cho thoát khỏi…quê hương. Quê hương chỉ còn là những ngày vàng con mắt, chặt con tim chẳng ai còn muốn lưu luyến. Hầu như mọi tầng lớp, mỗi người đều có tiểu sử trong đó có mục “vượt biên”. Bản nhạc nổi tiếng “Tàu Về Quê Hương” của Hồng Vân được quay mũi lái thành tàu rời quê hương. “Quê hương thanh bình mà sao ta sống không yên / Đưa nhau lên tàu vượt biên em thấy vui hơn / Vượt biên mình đóng ba cây / Vượt biên mình tới Ga-lăng / Vượt biên mình tới Bi-đông làm thân tị nạn / Không ai cho vàng mình đi theo lối canh me / Canh me không thành mình đi theo ngã Cao Miên / Vượt biên mình kiếm tương lai /Vượt biên mình kiếm đô la / Rồi mai mình lấy visa, làm thân Việt kiều”.

Đi hay về, Trịnh Công Sơn đã dùng dằng trong “Một Cõi Đi Về”. Không “đi” được, không yên phận “về”, thôi thì bia ôm cho quên phận của một tên lạc bày giữa quê hương. “Bao nhiêu năm rồi còn mãi bia ôm / Ôm nhau loanh quanh cho đời đỡ mệt / Em ơi! Bia ôm tha hồ chặt đẹp / Tình ái lăng nhăng – Một cõi đèn mờ / Lời nào của bia – Lời nào của rượu / Đùi nào của em – Đùi nào của bạn /  kế bên / Một thùng vừa bay – Một thùng vừa cạn / Ngồi vào lòng nhau cho vui trọn vẹn

 /  Tối ngày / Nhân dân chi tiền thì cứ bia ôm / Ai không bia ôm vô cùng khờ dại / Ta đi bia ôm cho đời trẻ lại / Kệ bố nhân dân dù đói hay nghèo”.
Tác giả của một nhạc phẩm bị chế lời chắc không vui khi đứa con tinh thần của mình bị lai căng. Cứ như một tổ chim bị tu hú ghé bàn tọa vào đẻ nhờ. Chim tu hú không biết làm tổ nên phải đẻ trứng vào tổ chim khác. Tác giả các bản nhạc chế, thường là vô danh, cũng đã mượn đỡ những bản nhạc nổi tiếng để gửi gấm tâm sự mình. Tôi không sáng tác nhạc nên không biết các nhạc sĩ sáng tác có nhạc bị chế cảm nghĩ ra sao. Nhưng thiết nghĩ họ nên vui vì nhạc mình có được nhiều người ê a, thì nhạc chế mới chọn để làm chốn nương thân.
                                                                                                   
03/2024                                                                             
Website: www.songthao.com

Năm Bính Ngọ, Tháng Năm, ngày lành tháng tốt. Tập Cận Bình Đại Đế long trọng mở yến tiệc tại Nhân Dân Đại Lễ Đường, tiếp đón phái đoàn từ quốc gia phía Đông của đại dương: Mỹ Lợi Kiên. Phái đoàn gồm cả những kẻ đội mũ quan, những kẻ đội mũ thương, và ít nhất một kẻ không chắc mình đang đội mũ gì.
Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo đang khiến nhiều nhà lập pháp Hoa Kỳ xét lại quyền giám sát của chính phủ, đặc biệt là Điều 702 trong Đạo Luật Giám Sát Tình Báo Ngoại Quốc (FISA). Cuộc tranh luận lâu nay về quyền của chính phủ trong việc rà soát điện thoại, điện thư và tin nhắn của người Mỹ mà không cần trát tòa nay trở nên cấp bách hơn. Vấn đề không chỉ là chính phủ có thể thu thập bao nhiêu dữ liệu. Vấn đề là trí tuệ nhân tạo có thể đọc, xếp loại, so sánh và nối kết những dữ liệu ấy nhanh hơn con người rất nhiều.
Đã hết giờ làm việc hành chánh, nhưng tối Thứ Tư 23/2, Bộ Trưởng Hải Quân John Phelan vẫn ngồi tại sảnh của tòa nhà Cánh Tây. Ông ta đã ngồi ở đó hơn một giờ đồng hồ, chờ đợi xem liệu “chiến hữu” lâu năm, hàng xóm láng giềng của ông, Tổng thống Trump, có giữ lại chiếc ghế cho ông ta hay không. Cuối cùng, người đàn ông đang có trong tay quyền lực và quyền lợi phải ra về trong nỗi thất vọng. Câu chuyện do Wall Street Journal tường thuật.
Mộ của Tatsu Takayama nằm lặng lẽ trong chùa Saishō-ji, ở một góc yên tĩnh phía tây Tokyo. Tấm bia không có gì nổi bật, gần như chìm lẫn giữa những ngôi mộ khác. Khó ai ngờ người nằm dưới mộ ấy lại là một phụ nữ từng làm một việc mà xã hội Nhật Bản thời đó xem như phạm điều cấm kỵ. Năm 1832, Takayama cải trang thành nam nhân để leo lên đỉnh Phú Sĩ, trong khi phụ nữ còn bị cấm đặt chân lên ngọn núi linh thiêng ấy. Bà trở thành người phụ nữ đầu tiên được biết là đã lên tới đỉnh, nhưng chiến công đó về sau lại bị lịch sử làm cho lu mờ.
Vào ngày 28/02/2026, Mỹ và Israel đồng loạt tấn công Iran, khởi động cuộc chiến tranh chống lại quốc gia Hồi Giáo vốn là kẻ thù nguy hiểm nhất của Israel trong khu vực. Ngay từ ngày đầu cuộc chiến, tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nhiều lần tuyên bố chiến thắng; kêu gọi đồng minh hỗ trợ không thành rồi chuyển sang sỉ nhục; đe dọa xóa sổ nền văn minh Iran… Tính đến ngày 10/4, Aljazeera tổng kết có khoảng trên 2,000 người Iran, 26 người Isarel, 13 người Mỹ, hơn 1,800 người Lebanon thiệt mạng. NBC ước tính Mỹ đã chi từ 28 đến 45 tỉ đô la cho cuộc chiến. Vào ngày 17 tháng 3 năm 2026, Joe Kent, Giám đốc Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia của Mỹ đã tuyên bố từ chức để phản đối cuộc chiến. Theo ông, không có mối đe dọa nào trực tiếp từ Iran; Mỹ gây chiến chỉ là vì Israel.
Trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, không khó để nhận ra những khác biệt rõ nét trong cách giao tiếp giữa người miền Bắc và người miền Nam. Những khác biệt ấy hiện rõ từ cách xưng hô, cách tranh luận, cho đến cả cách xin lỗi hay từ chối. Một ví dụ điển hình mà chúng ta thường thấy là cách xưng hô mang tính “đè đầu cưỡi cổ” như “Bố mày”. Câu nói này khá phổ biến với một bộ phận người miền Bắc, nhưng lại hoàn toàn xa lạ, thậm chí gây sốc trong giao tiếp của người miền Nam.
Ngày nay, ai cũng xem chuyện ăn uống điều độ và vận động thân thể là điều thiết yếu cho sức khỏe. Nhưng cách nghĩ ấy không phải tự nhiên mà có. Nó chỉ thật sự hình thành trong một quãng thời gian khá ngắn vào giữa thế kỷ trước. Năm 1955, Tổng thống Dwight Eisenhower bị nhồi máu cơ tim sau một buổi chơi golf tại Denver. Tin ấy làm cả nước chấn động. Ông mới 64 tuổi, lại là biểu tượng cho sức mạnh và sinh lực của nước Mỹ. Tổng y sĩ trưởng Hoa Kỳ lúc đó nói rằng nghe tin này chẳng khác nào nghe tin Trân Châu Cảng bị oanh tạc.
Cuối tháng 2 Dương Lịch, tôi ghé chơi nhà chị bạn ở cùng một thành phố. Nhà Chị cách nhà tôi 10 phút lái xe. Tới nơi thấy chị đang làm vườn. Chị nói: Hôm qua có nhờ người tới tỉa bớt nhánh, cành trên cây Lê, nhiều cành quá, quả sẽ ra nhiều và nhỏ, rồi rụng đầy vườn, những con quạ sẽ tới vừa mổ ăn, vừa vứt tung tóe đầy sân. Năm nay Chị cho cắt đi một phần hai số cành và chị đang thu những cành cho vào thùng rác. Tôi đứng nhìn Chị xếp những cành Lê vừa cắt xuống, cho vào thùng rác, những cành đầy những nụ non, nhỏ và xanh như những trái ớt nhỏ. Tôi bỗng chạnh lòng. Tôi cầm lên một cành, rồi lại bỏ xuống, rồi lại cầm lên. Cuối cũng tôi chọn một cành có nhiều nhánh và khá nhiều nụ.
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người. Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Trong nhiều năm sau Brexit, khi Âu Châu bàn đến việc tìm một trung tâm tài chính thay thế London, Stockholm hầu như không được nhắc đến. Frankfurt – nơi đặt Ngân hàng Trung ương Âu Châu – được xem là ứng viên tự nhiên. Paris với hệ thống ngân hàng thương mại quy mô lớn cũng được đánh giá cao. Amsterdam, với truyền thống giao dịch cổ phần từ thế kỷ XVII, được nhắc lại như một điểm tựa lịch sử.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.