Hôm nay,  

Tri túc

02/01/202600:00:00(Xem: 5554)

tri-túc-
 
Hồi còn nhỏ, tôi nhớ có đọc một câu chuyện, hình như trong mục truyện vui cười của báo Thiếu Nhi. Đại khái là có một ông nhà giàu, thấy một anh chàng trai trẻ đang nằm nghỉ thảnh thơi trên bãi biển. Ông nhà giàu hỏi sao không lên tàu ra khơi đánh cá. Chàng trai hỏi:

-          Để làm gì?
-          Để có tiền.
-          Có tiền để làm gì?
-          Để mua một con tàu đánh cá cho riêng mình.
-          Để làm gì?
-          Để kiếm nhiều tiền hơn, sau này về già có thể sống thảnh thơi.
-          Thì tôi đang sống thảnh thơi ngay lúc này rồi, đâu có cần làm chi cho cực?
 
Câu chuyện này còn đăng ở nhiều tờ báo khác, đa phần đều nằm trong mục truyện tiếu lâm.
 
Sau này ngẫm nghĩ lại, tôi tự hỏi tại sao câu chuyện này lại được xếp vào mục chuyện vui cười. Nó có thể là một đề tài tranh luận nghiêm túc về một phong cách sống, một triết lý sống có từ xa xưa: tri túc. Đại ý là khi nào mình cảm thấy nhu cầu là đủ thì nó đã đủ rồi, không cần tìm thêm nữa. Tri túc, tiện túc, hà thời túc.
 
Bản thân tôi cũng từng trải qua một câu chuyện tương tự. Hồi trẻ đi làm cho một công ty xây dựng của một thằng bạn học. D. là giám đốc, còn tôi là nhân viên bán hàng. Thấy cuối tuần tôi hay đi làm các công tác từ thiện, D. nói “…Tao mà như mày sẽ dành thì giờ để kiếm tiền. Thêm vài chục năm năm nữa, tao sẽ có thật nhiều tiền, lúc về già sẽ làm từ thiện cho đáng!...” Bạn có phần đúng. Điều này cũng giải thích phần nào tại sao bạn thì làm giám đốc, còn tôi chỉ là nhân viên. Tôi còn nói với D. rằng việc điều hành một công ty tạo ra công ăn việc làm cho 100 người còn có lợi ích cho xã hội hơn làm từ thiện nhiều. Xã hội rất cần có những người có khả năng lãnh đạo như D.
 
Có một vài người thân làm tôi suy nghĩ nhiều về phong cách sống tri túc. Trong xóm lao động có ông Tư làm nghề đạp xe ba bánh chở hàng, nên có tên là Ông Tư Ba Bánh. Gia đình ông nghèo lắm, nhưng lúc nào thấy ông cũng vui, ít khi thấy ông lo lắng. Mỗi sáng chở hàng cho mấy chị bán hàng ra ngoài chợ, chiều chở về, đủ sống qua ngày, nuôi con ăn học. Ngày nào kiếm “đủ sở hụi” là ông về nhà sớm, có ai kêu chạy thêm cũng không nhận. Rồi đến một buổi sáng sớm, Ông Tư chở hàng xong, ngừng xe ba bánh để đi tiểu ở gốc cây bên lề đường, thì một tên lưu manh lên xe đạp đi mất, ông già nên không đuổi kịp, mà đường lúc đó vắng người nên chẳng ai giúp. Ông đành đi bộ về nhà. Con hỏi xe đâu, ông nói “mất rồi!”. Cũng không thấy ông tỏ vẻ quá buồn phiền. Ông nằm nhà một lát, rồi lấy phấn vẽ lên tường nguệch ngoạc mấy chữ: “Hảo sự bất như vô”. Ông giải thích với con theo cách suy diễn của mình về câu ngạn ngữ này: ở đời, điều tốt cũng không bằng không có gì… Hàng xóm thấy thương tình, gom tiền cho ông mượn mua một chiếc xe ba bánh khác cũ hơn để làm phương tiện kiếm sống. Ông sống bình thản trong cảnh nghèo cho đến ngày nhắm mắt ra đi…
 
Anh Hai Lộc trước 1975 từng là đại diện cho Bộ Dân Vận Chiêu Hồi ở Vùng Bốn. Sau ngày Miền Nam thất thủ, anh đi tù cải tạo ba năm. Khi trở về nhà được bà chị đi xuất cảnh sang Pháp để lại cơ ngơi là một cửa hàng bán thuốc tây tại nhà. Vào thời đó, đây là một kiểu kinh doanh nhỏ, không chính thức nhưng kiếm tiền rất khá. Nhưng anh không thích ngồi nhà cả ngày bán thuốc tây để làm giàu. Lúc nào thấy “đủ sở hụi” là anh chạy đi chơi, tổ chức hội họp bạn bè hát hò, văn nghệ, đi đánh mạt chược. Một trong những cuốn truyện mà anh rất thích là “Cuộc Đời Và Kinh Nghiệm Của Alexis Zorba” của nhà văn Hy Lạp Nikos Kazantzakis. Nhân vật chính sống hết mình, sống tự do không chạy theo những giá trị chung của xã hội như giàu sang, danh vọng. Anh Hai Lộc cho rằng đây là một lối sống “thiền”, và anh cũng thế, cho nên không bao giờ giàu tiền bạc. Nhưng nhiều bạn bè nói anh là một trong những người biết cách sống trọn vẹn, và sống giàu tình nghĩa với mọi người nhất.
 
Bố tôi là nhà văn, nhà giáo, trước 1975 sống cuộc đời thanh đạm của một ông bố đi dạy để nuôi tám đứa con. Sau 1975 đi tù hai lần đều liên quan đến tội “biệt kích cầm bút”. Đi tù về, trải qua bao gian khổ, ông càng trân quí với những gì mình đang có hơn. Trong một “câu chuyện đầu năm” nhân một buổi họp mặt đêm giao thừa truyền thống hằng năm, ông tặng cho con cháu một phương châm sống của năm: “Hãy sống giản dị và làm lành”. Thực ra ông sống với phương châm đó cả đời. Đa số những người quen biết không quí ông vì tài viết văn hay dạy học, mà là vì phong cách sống an nhiên tự tại.
 
Trong Phật Giáo, tri túc là quan điểm xem mọi cảm thọ đều bắt nguồn từ cái tâm. Một người sống hạnh phúc hay khổ đau là do cách nhìn những gì xảy ra với mình. Cũng cùng một sự việc, có người thấy đau khổ, có người cảm thấy lạc quan. Hạnh phúc đến từ trong tâm chứ không phải từ bên ngoài. Người Tây Phương cũng có quan niệm tương tự qua khái niệm “nửa ly nước.” Nhìn ly nước còn một nửa, có người than: “Buồn quá! Tôi chỉ còn nửa ly nước!”; nhưng cũng có người mừng: “Vui thật! Tôi có đến nửa ly nước!”
 
Trong đời sống hàng ngày, nhiều người sống tri túc một cách tự nhiên, không lý luận. Khi gặp khó khăn, họ cho đó là cơ hội để rèn luyện khả năng chịu đựng nghịch cảnh. Thấy mình gặp chuyện không may, họ nghĩ đến những hoàn cảnh khốn khó hơn mình đang xảy ra chung quanh. Dù không giàu để ăn sang, mặc đẹp, nhưng vẫn cảm thấy mình may mắn hơn những kẻ hành khất không nhà. Thấy người hành khất mù thì cảm ơn đời vì mình vẫn còn đôi mắt sáng. Nhiều người theo Đạo Phật tin vào nhân quả, khi gặp bất hạnh thì cho rằng mình đang trả quả báo cho những điều mình đã từng làm; trả hết nghiệp rồi thì sẽ bớt khổ. Không xét đến đúng sai, những người lạc quan như vậy dễ có được hạnh phúc trong đời sống.
 
Vua Trần nhân tông, Sơ Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có một bài thơ thiền nổi tiếng “Cư Trần Lạc Đạo”. Bản dịch của Hòa Thượng Thích Thanh Từ:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền
 
Bài thơ có ý nghĩa thiền thâm sâu, hướng đến sự nhận ra Phật Tánh có sẵn tự tâm của mỗi người. Nhưng nếu hiểu theo ý nghĩa đơn giản của từ ngữ, bài thơ cũng hàm ý tri túc như một cách sống hữu ích cho người tu. Đơn giản hóa nhu cầu đời sống để có cái tâm buông xả. Bản thân mình đã có đủ những thứ để có được an lạc, chẳng cần đi tìm cầu ở bên ngoài.
 
Không phải ai cũng thích lối sống kiểu tri túc. Có người cho rằng những người sống tri túc là an phận, dễ dãi, không cầu tiến, do đó khó thăng tiến trong sự nghiệp, khó thành công ngoài xã hội. Điều này cũng đúng. Những người sống tri túc có lẽ cũng cần học cách sống trung đạo để không bị rơi vào lối suy nghĩ dễ dãi, sống buông trôi không cố gắng. Người xưa có câu “tận nhân lực, tri thiên mệnh”, cố gắng làm hết sức mình rồi mới vui với những gì mình đang có. Nói thì dễ, làm thì khó. Làm thế nào để biết là mình đã làm hết sức mình? Đâu là giới hạn khả năng của một con người? Một câu hỏi khó, câu trả lời có lẽ tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Vua Trần Nhân Tông từng khoác chiến bào lãnh đạo dân quân nhà Trần đánh bại quân Mông Cổ hùng mạnh, sau đó mới khoác áo nhà tu sống đời thanh tịnh trên núi Yên Tử. Ngài là một tấm gương cho lối sống thấy việc cần làm thì làm, sau đó lại trở về với vô sự.
 
Sống tri túc không chỉ có được an lạc cho bản thân. Một người khi cảm thấy mình đã đầy đủ sẽ dễ chia sẻ với người khác hơn. Điều này cũng dễ hiểu. Khi chưa thấy đã kiếm đủ tiền bạc, tài sản, làm sao ta có thể giúp đỡ vật chất cho người khác? Mà sự cho đi không chỉ giới hạn ở của cải. Do không còn mong cầu, người tri túc dễ có được sự bình an, dễ cảm thấy hạnh phúc, nhờ vậy mà có thể đem lại bình an cho người khác. Làm sao ta có thể cho người khác cái mà ta không có?
 
Tôi có biết một nhóm Phật tử trẻ thường đi giúp vui cho các vị cao niên sống trong viện dưỡng lão. Các bác không thiếu ăn, thiếu mặc, nhưng cô đơn. Mỗi lần nhóm bạn trẻ đến, các bác vui lắm. Khi trả lời đúng một câu hỏi trong chương trình đố vui, khi cùng hát chung một số bài hát quen thuộc thời trai trẻ, những gương mặt tuổi già cười vui rạng ngời. Cũng có khi là những giọt nước mắt vì hạnh phúc.
 
Tôi có một người bạn trung học tên C. bị chứng bệnh Alzheimer kết hợp với Parkinson từ khi tuổi đời chưa đến 60, phải nằm liệt giường gần 5 năm ở San Diego trước khi qua đời. Nhóm bạn cùng lớp ở California quyết định đi thăm C. một tháng một lần. Gia đình kể mỗi lần biết có bạn sắp đến chơi, C. mong lắm, ngủ sớm từ tối hôm trước để hôm sau tỉnh táo gặp bạn bè. Sáng ra C. nói với con rằng “Hôm nay các bác đến chơi với ba…” Có lần có thêm các bạn từ tiểu bang khác, từ Việt Nam sang chơi, lên đến gần 10 bạn. Những lần như vậy C. vui lắm. Nằm trên giường, cho dù đã quên chuyện đời thường khá nhiều, C. huyên thuyên cười nói, nhắc lại những kỷ niệm thời đi học. Vợ C. nói ít khi thấy chồng mình hạnh phúc đến như vậy.
 
Khi mang lại niềm vui cho những người có hoàn cảnh khó khăn, có người không thấy mình đang làm phước, mà cảm thấy chính mình có được hạnh phúc. Khi biết cách cho, người cho còn hạnh phúc hơn người nhận.
 
Trong một bài giảng, Thầy Phước Tịnh có kể một câu chuyện thú vị về cuộc đối thoại giữa một vị hoàng đế và một người ăn mày. Vị hoàng đế dù có nhiều tiền của nhưng vẫn không sẵn lòng giúp đỡ bố thí cho người khác vì thấy bao nhiêu tài sản cũng là chưa đủ. Hoàng đế dù có địa vị quyền lực cao nhất nhưng vẫn thiếu thốn hạnh phúc, thiếu tình yêu thương đích thực, cho nên vẫn phải đi tìm người giúp mang lại sự bình an cho tâm hồn. Ngược lại, những người dù nghèo của cải vật chất nhưng nhờ biết đủ vẫn sẵn sàng chia sẻ những gì mình có cho những người thiếu thốn hơn. Người nghèo vẫn có thể giàu lòng từ bi nhờ tâm vô cầu. Chỉ cần tâm thấy vui với những gì đang có, thì hạnh phúc liền có mặt trong giây phút hiện tiền, họ sẵn sàng chia sẻ hạnh phúc với những người chung quanh. Làm hoàng đế, hay làm ăn mày, cũng chỉ do cái tâm mà ra…
 
Xin mời nghe bài thiền ca Hoàng Đế Và Ăn Mày, viết theo tinh thần lời giảng của Thầy Thích Phước Tịnh:
 
ĐK: Ta không cho những gì lòng ta mong cầu
Ta không cho những gì lòng còn khát khao
 
Một người ăn mày ái tình
Đi đến thế nhân cố xin tình thân
Một người đi tìm hạnh phúc
Nơi sang nơi giầu mà chẳng thấy đâu
 
ĐK: Ta không cho những gì lòng ta mong cầu
Ta không cho những gì lòng còn khát khao
 
Rồi người không còn si tình
Bố thí nhân gian với tâm từ bi
Rồi người không cần danh tướng
Nhìn ra vô thường người thành đế vương
Hoàng đế cần chi sang giầu
Hoàng đế nhờ tâm vô cầu
 
Doãn Hưng
 

Năm Bính Ngọ, Tháng Năm, ngày lành tháng tốt. Tập Cận Bình Đại Đế long trọng mở yến tiệc tại Nhân Dân Đại Lễ Đường, tiếp đón phái đoàn từ quốc gia phía Đông của đại dương: Mỹ Lợi Kiên. Phái đoàn gồm cả những kẻ đội mũ quan, những kẻ đội mũ thương, và ít nhất một kẻ không chắc mình đang đội mũ gì.
Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo đang khiến nhiều nhà lập pháp Hoa Kỳ xét lại quyền giám sát của chính phủ, đặc biệt là Điều 702 trong Đạo Luật Giám Sát Tình Báo Ngoại Quốc (FISA). Cuộc tranh luận lâu nay về quyền của chính phủ trong việc rà soát điện thoại, điện thư và tin nhắn của người Mỹ mà không cần trát tòa nay trở nên cấp bách hơn. Vấn đề không chỉ là chính phủ có thể thu thập bao nhiêu dữ liệu. Vấn đề là trí tuệ nhân tạo có thể đọc, xếp loại, so sánh và nối kết những dữ liệu ấy nhanh hơn con người rất nhiều.
Đã hết giờ làm việc hành chánh, nhưng tối Thứ Tư 23/2, Bộ Trưởng Hải Quân John Phelan vẫn ngồi tại sảnh của tòa nhà Cánh Tây. Ông ta đã ngồi ở đó hơn một giờ đồng hồ, chờ đợi xem liệu “chiến hữu” lâu năm, hàng xóm láng giềng của ông, Tổng thống Trump, có giữ lại chiếc ghế cho ông ta hay không. Cuối cùng, người đàn ông đang có trong tay quyền lực và quyền lợi phải ra về trong nỗi thất vọng. Câu chuyện do Wall Street Journal tường thuật.
Mộ của Tatsu Takayama nằm lặng lẽ trong chùa Saishō-ji, ở một góc yên tĩnh phía tây Tokyo. Tấm bia không có gì nổi bật, gần như chìm lẫn giữa những ngôi mộ khác. Khó ai ngờ người nằm dưới mộ ấy lại là một phụ nữ từng làm một việc mà xã hội Nhật Bản thời đó xem như phạm điều cấm kỵ. Năm 1832, Takayama cải trang thành nam nhân để leo lên đỉnh Phú Sĩ, trong khi phụ nữ còn bị cấm đặt chân lên ngọn núi linh thiêng ấy. Bà trở thành người phụ nữ đầu tiên được biết là đã lên tới đỉnh, nhưng chiến công đó về sau lại bị lịch sử làm cho lu mờ.
Vào ngày 28/02/2026, Mỹ và Israel đồng loạt tấn công Iran, khởi động cuộc chiến tranh chống lại quốc gia Hồi Giáo vốn là kẻ thù nguy hiểm nhất của Israel trong khu vực. Ngay từ ngày đầu cuộc chiến, tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nhiều lần tuyên bố chiến thắng; kêu gọi đồng minh hỗ trợ không thành rồi chuyển sang sỉ nhục; đe dọa xóa sổ nền văn minh Iran… Tính đến ngày 10/4, Aljazeera tổng kết có khoảng trên 2,000 người Iran, 26 người Isarel, 13 người Mỹ, hơn 1,800 người Lebanon thiệt mạng. NBC ước tính Mỹ đã chi từ 28 đến 45 tỉ đô la cho cuộc chiến. Vào ngày 17 tháng 3 năm 2026, Joe Kent, Giám đốc Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia của Mỹ đã tuyên bố từ chức để phản đối cuộc chiến. Theo ông, không có mối đe dọa nào trực tiếp từ Iran; Mỹ gây chiến chỉ là vì Israel.
Trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, không khó để nhận ra những khác biệt rõ nét trong cách giao tiếp giữa người miền Bắc và người miền Nam. Những khác biệt ấy hiện rõ từ cách xưng hô, cách tranh luận, cho đến cả cách xin lỗi hay từ chối. Một ví dụ điển hình mà chúng ta thường thấy là cách xưng hô mang tính “đè đầu cưỡi cổ” như “Bố mày”. Câu nói này khá phổ biến với một bộ phận người miền Bắc, nhưng lại hoàn toàn xa lạ, thậm chí gây sốc trong giao tiếp của người miền Nam.
Ngày nay, ai cũng xem chuyện ăn uống điều độ và vận động thân thể là điều thiết yếu cho sức khỏe. Nhưng cách nghĩ ấy không phải tự nhiên mà có. Nó chỉ thật sự hình thành trong một quãng thời gian khá ngắn vào giữa thế kỷ trước. Năm 1955, Tổng thống Dwight Eisenhower bị nhồi máu cơ tim sau một buổi chơi golf tại Denver. Tin ấy làm cả nước chấn động. Ông mới 64 tuổi, lại là biểu tượng cho sức mạnh và sinh lực của nước Mỹ. Tổng y sĩ trưởng Hoa Kỳ lúc đó nói rằng nghe tin này chẳng khác nào nghe tin Trân Châu Cảng bị oanh tạc.
Cuối tháng 2 Dương Lịch, tôi ghé chơi nhà chị bạn ở cùng một thành phố. Nhà Chị cách nhà tôi 10 phút lái xe. Tới nơi thấy chị đang làm vườn. Chị nói: Hôm qua có nhờ người tới tỉa bớt nhánh, cành trên cây Lê, nhiều cành quá, quả sẽ ra nhiều và nhỏ, rồi rụng đầy vườn, những con quạ sẽ tới vừa mổ ăn, vừa vứt tung tóe đầy sân. Năm nay Chị cho cắt đi một phần hai số cành và chị đang thu những cành cho vào thùng rác. Tôi đứng nhìn Chị xếp những cành Lê vừa cắt xuống, cho vào thùng rác, những cành đầy những nụ non, nhỏ và xanh như những trái ớt nhỏ. Tôi bỗng chạnh lòng. Tôi cầm lên một cành, rồi lại bỏ xuống, rồi lại cầm lên. Cuối cũng tôi chọn một cành có nhiều nhánh và khá nhiều nụ.
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người. Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Trong nhiều năm sau Brexit, khi Âu Châu bàn đến việc tìm một trung tâm tài chính thay thế London, Stockholm hầu như không được nhắc đến. Frankfurt – nơi đặt Ngân hàng Trung ương Âu Châu – được xem là ứng viên tự nhiên. Paris với hệ thống ngân hàng thương mại quy mô lớn cũng được đánh giá cao. Amsterdam, với truyền thống giao dịch cổ phần từ thế kỷ XVII, được nhắc lại như một điểm tựa lịch sử.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.