Hôm nay,  

Hoa Kỳ Cần Một Chiến Lược Toàn Diện Để Kiểm Soát Bọ Ve

8/7/202600:00:00(View: 155)
 
Lyme
 
Bọ ve trước đây thường chỉ được xem là một thứ phiền toái khi người ta đi rừng, cắm trại hay làm vườn. Nhưng trong vài chục năm qua, loài ký sinh nhỏ bé này đã trở thành một mối nguy đáng kể cho sức khỏe công cộng tại Hoa Kỳ.

Số bọ ve đang gia tăng, địa bàn sinh sống của chúng mở rộng, và các bệnh lây truyền qua vết cắn cũng ngày một nhiều. Từ năm 2000, số ca bệnh Lyme đã tăng hơn gấp đôi. Trong cùng thời gian, giới khoa học nhận diện thêm tám bệnh mới do bọ ve truyền, cùng hội chứng alpha-gal, một chứng dị ứng với thịt đỏ có thể xảy ra sau khi bị bọ ve lone star cắn.

Các lời khuyên phòng ngừa hiện nay chủ yếu đặt trách nhiệm lên từng cá nhân: xịt thuốc permethrin lên quần áo, nhét ống quần vào vớ, tránh cỏ rậm và khám kỹ toàn thân sau khi ra ngoài. Những biện pháp ấy vẫn cần thiết, nhưng giới chuyên môn cho rằng chúng không còn đủ sức ngăn một vấn đề đã lan rộng trên nhiều tiểu bang.

Nhiều nhà nghiên cứu đề nghị Hoa Kỳ lập những chương trình kiểm soát bọ ve tương tự các chương trình diệt muỗi do chính quyền địa phương thực hiện từ hơn một thế kỷ qua. Bệnh do bọ ve truyền hiện gây bệnh cho nhiều người Mỹ hơn các bệnh do muỗi truyền, nhưng ngân khoản nghiên cứu và phòng ngừa vẫn còn hạn chế.

Sự lan rộng của bọ ve có liên hệ chặt chẽ với những thay đổi trong môi trường. Vào thời kỳ đầu lập quốc, nhiều khu rừng bị khai phá làm nông trại, còn nai đuôi trắng bị săn đến gần tuyệt chủng. Bọ ve vì thế mất nơi trú ngụ và thiếu con vật chủ để hút máu, nên ít có cơ hội sinh sôi và truyền bệnh sang người.

Sang thế kỷ 20, nhiều nông trại bị bỏ hoang, rừng mọc trở lại và đàn nai phục hồi. Trong khi đó, những loài thú săn nai như chó sói không còn đủ nhiều để giữ quân số nai ở mức thấp. Bọ ve chân đen, loài truyền bệnh Lyme, và bọ ve lone star vì vậy phát triển mạnh, mang theo nhiều mầm bệnh khác như anaplasmosis, babesiosis, Ehrlichia, virus Powassan và virus Bourbon.

Nai giữ vai trò quan trọng trong vòng sinh sản của bọ ve. Theo một nhà nghiên cứu tại Đại học Tufts, một con nai có thể nuôi khoảng 1,500 bọ ve cái; mỗi con lại có thể đẻ tới 2,000 trứng. Như vậy, chỉ một con nai cũng có thể góp phần tạo ra hàng triệu bọ ve trong một mùa sinh sản.

Năm 1997, dân trên đảo Monhegan, ngoài khơi tiểu bang Maine, cho loại bỏ toàn bộ đàn nai sau nhiều năm chịu đựng bệnh Lyme. Sau đó, bệnh này gần như biến mất khỏi đảo. Tuy nhiên, việc giảm đàn nai bằng săn bắn khó áp dụng tại các khu ngoại ô đông dân và thường gặp sự chống đối của giới bảo vệ thú vật.

Một số nơi đã thử những phương pháp khác. Thành phố New York triệt sản nai đực trên Staten Island, giúp đàn nai giảm gần một nửa. Số bọ ve cũng giảm, nhưng tỷ lệ bọ ve mang vi khuẩn Lyme lại tăng. Kết quả này cho thấy quan hệ giữa nai, bọ ve và bệnh tật phức tạp hơn việc chỉ giảm số nai.

Giới khoa học còn thử dùng các trạm thức ăn để bôi thuốc diệt bọ ve lên mình nai. Một hướng nghiên cứu khác là cho nai dùng fluralaner, loại thuốc diệt bọ ve vốn được dùng cho chó, hoặc chế tạo thuốc chủng khiến cơ thể nai chống lại nước bọt của bọ ve, làm chúng không thể bám lâu để hút máu.

Thuốc trừ sâu hiện nay có thể diệt bọ ve rất hữu hiệu, nhưng đồng thời cũng gây hại cho ong và nhiều loại côn trùng có ích. Các nhà nghiên cứu vì thế đang tìm cách phun thuốc đúng nơi, đúng mùa, hoặc dùng những loại nấm chỉ tấn công bọ ve. Họ cũng cho rằng nhiều loại thuốc xịt sân vườn làm từ tinh dầu chưa có đủ bằng chứng về hiệu quả.

Theo giới chuyên môn, không có một phương cách duy nhất có thể giải quyết toàn bộ vấn đề. Hoa Kỳ có thể phải phối hợp nhiều biện pháp: giảm đàn nai tại những nơi thích hợp, dùng thuốc diệt bọ ve trên động vật, cải tiến thuốc trừ sâu, phát triển thuốc chủng và tăng ngân khoản nghiên cứu.

Bệnh Lyme trước đây thường được xem chủ yếu là một vấn đề y khoa. Nhưng sự xuất hiện liên tiếp của nhiều bệnh mới cho thấy đây còn là một vấn đề sinh thái. Thay vì chỉ chữa bệnh sau khi con người đã bị cắn, một chính sách hữu hiệu hơn là làm cho bọ ve bớt sinh sôi ngay trong môi trường sống.

VB Nguồn: tóm lược theo bài của Sarah Zhang, viết trên The Atlantic ngày 3 tháng 8, 2026.

Trong chuyện ái ân của loài nhện lưng đỏ Úc Châu, con đực có một màn biểu diễn nghe như chuyện đùa: đang giao phối, nó bất thần lộn ngược người, đưa bụng mình thẳng vào đôi nanh của con cái — gần như mời bạn tình ăn thịt mình. Nhưng con nhện đực chưa hẳn muốn chết ngay.
Vài năm nay, chuyện mua sắm không còn hào hứng lắm đối với đàn bà chúng tôi. Ít nhất, đối với riêng tôi, ‘cảm hứng’ đã giảm đi một nửa. Vào các cửa tiệm hay các trang mạng thời trang, ta thấy gì? Toàn một màu xám ngắt! Quần áo cho giới trung niên thỉnh thoảng có màu sắc nhẹ nhàng: vàng nhạt, xanh nhạt. Nhưng nói chung, những chiếc áo đầm bông hoa rực rỡ không còn dám lộ mặt, ra tên. Còn áo len đỏ, cam, xanh lá non? Chỉ xuất hiện để một sớm một chiều đi vào góc on sale/giảm giá.
Theo Viện Nghiên Cứu Chính Sách Kinh Tế Stanford (Stanford Institute for Economic Policy Research) thị trường việc làm tại Hoa Kỳ đã hạ nhiệt đáng kể và lâm vào tình trạng suy yếu. Cục Thống Kê Lao Động (US Bureau of Labor Statistics - BLS) báo cáo rằng trong tháng 7 vừa qua nền kinh tế Hoa Kỳ đã mất 23,000 việc làm ngoài dự đoán.
Tôi nghiệm ra rằng cảm xúc trong tình yêu không mất đi đâu cả, nó vẫn nằm nguyên trong tiềm thức. Đạo Phật gọi đó là A Lại Gia Thức, nơi lưu trữ tất cả những gì một người đã từng nghĩ suy, đã nói ra thành lời, hay đã hành động có chủ đích. Yêu là cảm xúc, cũng được lưu lại trong tâm thức.
Nếu bình tĩnh nhìn lại, có lẽ điều đáng chú ý nhất không nằm ở chỗ câu nói này có khả thi hay không, vì rõ ràng là không, mà nằm ở chỗ nó được nói ra một cách rất tự nhiên, như thể đang kể chuyện mua thêm một miếng đất sau vườn. Không có văn bản pháp lý, không có lộ trình ngoại giao, không có gì ngoài một câu nói được thả ra giữa bài diễn văn về tội phạm đường phố, rồi lập tức chuyển sang chuyện Venezuela và giá dầu.
Nhìn từ bên ngoài, lối vào hầm trú ẩn Sonnenberg ở thành phố Lucerne chẳng có gì đáng sợ. Nó nằm ngay giữa một sân chơi trẻ em, bên cạnh xích đu và những tấm ván nhún ngoài trời. Nhưng phía sau cánh cửa dày có thể chịu được sức nổ là một đường hầm sáng đèn chạy sâu vào lòng núi, dẫn tới một công trình khổng lồ được xây từ thập niên 1970 để chứa tới 20,000 người nếu chiến tranh nguyên tử xảy ra. “Thời ấy, 20,000 người bằng khoảng một phần ba dân số Lucerne,” Zora Schelbert, người hướng dẫn tại Sonnenberg, nói. “Nghĩa là cứ ba người trong thành phố thì có một người được dự tính sẽ xuống đây trú ẩn.”
Khi Tổng Thống Donald Trump bí mật rời chuyên cơ Air Force One (AF1) bằng cách “núp” trong thùng của xe chở thực phẩm phục vụ trên phi cơ, rồi lên một phi cơ khác để tránh nguy cơ bị ám sát tại Thổ Nhĩ Kỳ, ông đã chọn ba trợ lý trung thành và gắn bó lâu năm nhất. Không một quan chức nào thuộc Nội Các có trong danh sách. Theo một quan chức Mỹ am hiểu về chiến dịch này cùng các tài liệu xác thực mà tờ The Post đã xem xét, ba người đó là ông Dan Scavino, phó chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc, ông Walt Nauta, giám đốc phụ trách hoạt động tại Phòng Bầu Dục và cuối cùng là cô gái tóc vàng Natalie Harp trợ lý điều hành của ông Trump – người luôn được nhìn thấy xuất hiện cạnh tổng thống bất cứ nơi nào ông đến.
Từ hơn ba thập niên qua, cuộc tìm kiếm những hành tinh bên ngoài Thái Dương Hệ vẫn là một trong những công cuộc lớn nhất của thiên văn học. Ngoại hành tinh đầu tiên được xác nhận vào năm 1992, xoay quanh một ngôi sao neutron cách Trái Đất khoảng 2,300 năm ánh sáng. Từ đó đến nay, nhờ các viễn-vọng-kính đặt trên không-gian và trên mặt đất, giới thiên-văn đã tìm ra hơn 6.200 ngoại-hành-tinh rải rác trên bầu trời, đưa đến kết-luận rằng hầu như mỗi vì sao đang tồn-tại đều có ít nhất một hành-tinh quay quanh nó.
Phẫu thuật tháo túi ngực đang trở thành một hiện tượng đáng chú ý tại Hoa Kỳ. Số phụ nữ đi tháo túi ngực tăng nhanh trong vài năm gần đây. Những lo ngại về sức khỏe – đặc biệt “bệnh do túi ngực (breast implant illness)” – là lý do dễ thấy. Nhưng phía sau con số còn là một chuyển động sâu hơn: cách xã hội Mỹ nhìn địa vị, thời trang và vòng ngực đang đổi.
Cách đây vài năm, một trung tâm ca nhạc Việt Nam nổi tiếng vùng Little Saigon phải thu hẹp hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Trung tâm này phải dọn văn phòng sang một mặt bằng nhỏ hơn để tiết kiệm chi phí. Một số người đi qua khu vực văn phòng cũ thấy CD, DVD ca nhạc vứt thành từng đống lớn ở phía trước để chờ đem đi đổ. Chẳng ai buồn lấy đem về nhà, dù trước đó vài năm một đĩa nhạc như vậy có thể có giá vài chục đô. Nhìn cảnh tượng đau lòng này, tôi nhớ đến một thời cách đây gần 40 năm, sau 1975 người dân trong nước Việt Nam thèm thuồng được nghe nhạc hải ngoại. Vào thời đó, chỉ có nhạc đỏ, nhạc cách mạng, nhạc ngoại quốc XHCN là được phổ biến chính thức. Người dân Miền Nam nhớ nhạc vàng, nhạc trẻ Âu Mỹ nên tìm nguồn để nghe. Nhạc vàng được nhà nước xếp vào loại văn hóa “phản động”, nhạc Âu Mỹ là “đồi trụy”, cả hai đều bị cấm. Có được một cuốn băng nhạc từ hải ngoại gởi về là một món quà tinh thần quí giá.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.