Hôm nay,  

Dự Trữ Ngoại Tệ

16/12/200900:00:00(Xem: 9907)

Dự Trữ Ngoại Tệ

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...Việt Nam đội sổ và khó tránh được khủng hoảng về ngoại hối...
Trước đà sụt giá của Mỹ kim từ đầu năm nay, nhiều quốc gia đã nêu vấn đề là đô la của Mỹ có đáng là một ngoại tệ dự trữ hay không. Tiết mục chuyên đề Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi đó với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa thì được hỏi ngược lại, rằng dự trữ ngoại tệ là để làm gì" Quả vậy, chức năng của khối dự trữ ngoại tệ dường như đã có thay đổi theo thời gian như chúng ta có thể thấy qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện sau đây với ông Nguyễn Xuân Nghĩa.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Khi đô la Mỹ sụt giá thì nhiều quốc gia đã nêu vấn đề về vai trò ngoại tệ dự trữ của đồng bạc xanh, như người ta hay gọi đồng Mỹ kim. Như ông có hỏi ngược, xin ông cho biết là dự trữ ngoại tệ hiện giữ chức năng gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa nếu hiểu rõ chức năng hiện tại so với quá khứ của khối dự trữ ngoại tệ thì ta có thể suy ngược lên, xem đồng Mỹ kim nay có đáng là một ngoại tệ dự trữ nữa không. Một đồng bạc được coi là ngoại tệ dự trữ khi các nước muốn giữ đồng bạc ấy trong khối dự trữ ngoại tệ của mình. Nếu biết về mục tiêu duy trì khối dự trữ ngoại tệ để làm gì thì ta sẽ suy ra là trong cái rổ gồm có nhiều ngoại tệ ta nên giữ bao nhiêu dưới dạng Mỹ kim.
Việt Long: Chính là vì câu hỏi đó nên chương trình kỳ này sẽ tìm hiểu về chức năng của khối dự trữ ngoại tệ. Như cách ông vừa trình bày thì hình như chức năng ấy có thay đổi với thời gian và chức năng hiện tại lại có khác với ngày trước. Có đúng như vậy hay không"
Những chức năng đổi thay của khối dự trữ ngoại tệ
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta cần trở lại chuyện xưa để hiểu ra sự chuyển hoá chức năng đó.
- Sau Thế chiến II, Hoa Kỳ là cường quốc giàu nhất và góp phần tái thiết các quốc gia từ Âu qua Á nên hệ thống tiền tệ quốc tế mặc nhiên đưa Mỹ kim lên ngôi vị ngoại tệ dự trữ và xứ nào cũng định giá đồng bạc của mình theo đồng đô la. Khi ấy, Hoa Kỳ cũng hứa định giá Mỹ kim là 35 đồng thì ăn một troy ounce vàng, tương đương với chừng 31 gram. Nhưng từ tháng Tám năm 1971, Hoa Kỳ đơn phương bứt đứt neo vàng ấy, mặc nhiên thả nổi và phá giá đồng bạc. Khi ấy, các nước vẫn thực tế theo đuổi chế độ định giá nội tệ của quốc gia theo Mỹ kim, lâu lâu lại điều chỉnh căn cứ trên sự khác biệt về vật giá hay lạm phát của xứ mình và của Mỹ. Đó là về quy chế. 
- Sau Thế chiến II, xứ nào cũng cố xuất khẩu cho nhiều để đủ ngoại tệ tài trợ việc nhập khẩu cần thiết cho tái thiết và phát triển. Vì đô la là phương tiện giao hoán phổ biến nhất nên xứ nào cũng ghim sẵn một số đô la trong túi để kịp thanh toán chênh lệch về ngoại thương. Cụ thể là phải có đủ đô la tài trợ yêu cầu nhập khẩu cho ba tháng. Mà nhập khẩu càng nhiều thì dự trữ ngoại tệ càng cao. Khi đó, khối dự trữ ngoại tệ có chức năng an toàn ngoại thương. Vì Mỹ kim là ngoại tệ dự trữ như vậy, Hoa Kỳ tất nhiên là có lợi khi mua bán, phát hành và nhất là vay mượn vì nơi nào cũng có đô la. Ngược lại các nước cũng ấn định hối suất đô la hay tỷ giá đồng bạc với tiền Mỹ sao cho có lợi về xuất khẩu mà vẫn không có khác biệt thái quá vì hối suất thấp sẽ làm hàng nhập khẩu đắt hơn.
Việt Long: Thế rồi chức năng ấy bắt đầu thay đổi từ lúc nào, vì lý do gì và nay đang đi tới đâu"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chế độ neo giá đồng nội tệ vào Mỹ kim theo một tỷ giá nhất định ấy quá cứng ngắc nên dần dần được bỏ, để cho thị trường quyết định về hối suất theo quy luật cung cầu. Việc ấy càng trở thành phổ biến khi Chiến tranh lạnh kết thúc, là từ đầu thập niên 90, và khi tư bản được tự do giao dịch giữa các nước. Trên lý thuyết thì các nước khỏi cần dự trữ ngoại tệ nữa vì về dài thì sai biệt hối suất trên thị trường sẽ tự đồng điều chỉnh sai biệt về xuất nhập khẩu. Nhập siêu sẽ giảm dần nhờ hốt suất thấp chẳng hạn. Thực tế thì các nước vẫn cần dự trữ ngoại tệ để ứng phó với những sai lệch quá lớn về hối suất trên thị trường hối đoái hay ngoại hối quốc tế. Cụ thể là có ngoại tệ để kịp bán ra hầu giữ cho đồng nội tệ khỏi mất giá.
Dự trữ ngoại tệ để ứng phó với biến động tài chính
Việt Long: Như vậy, theo chế độ hối suất tự do ấy thì chức năng an toàn của dự trữ ngoại tệ vẫn còn nguyên vẹn"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chẳng những nguyên vẹn mà còn tăng, nhưng không vì ngoại thương mà vì lý do ngoại hối. Đã thế, vì quy chế tự do chuyển dịch tư bản, cụ thể là tiền có thể chảy từ xứ này qua xứ khác, ta có một rủi ro mới. Đó là thị trường có quyền vay mượn và đầu tư bằng ngoại tệ của xứ khác. Vì vậy, dự trữ ngoại tệ phải có mức tối thiểu nào đó, không tính theo ba tháng nhập khẩu mà tính qua số nợ ngoại quốc sẽ đáo hạn trước mắt, trong đó có công trái của nhà nước và nợ của tư doanh. Ngược lại, khi đi vay thì cũng phải tính xem có khả năng trả nợ bằng xuất khẩu hay không. Sở dĩ như vậy vì, thí dụ như khi thấy lãi suất tại Mỹ quá rẻ, người ta vay tiền trên thị trường Mỹ đem về cho vay lại ở nhà với phân lời cao hơn, hoặc đầu tư để kiếm lợi nhiều hơn, và có khi lại thổi lên bong bóng. Khi đó, các nước phải có sẵn dự trữ đủ cao để phòng xa bóng bể, chủ nợ rút vốn đem về hoặc đem qua thị trường khác có lời hơn.
- Thế rồi vì muốn giữ giá đồng Bath cho cao - cao hơn tỷ giá tự nhiên của thị trường - lại không đủ dự trữ cho lượng giao dịch quá lớn, tháng Bảy năm 1997, Thái Lan phải thả nổi, tức là bứt neo và phá giá đồng Bath, và bị biến động hối đoái khiến Đông Á bị khủng hoảng năm 1997-1998 rồi bị suy trầm nặng. Đấy là biến cố lịch sử làm thay đổi chức năng của dự trữ ngoại tệ.


Việt Long: Nghe đến đây thì tôi giật mình nghĩ tới trường hợp Việt Nam ngày nay với tỷ lệ vay nợ ngoại quốc quá cao và dự trữ ngoại tệ quá thấp.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ trở lại chuyện đáng ngại ở Việt Nam trong phần cuối.
- Chỉ xin nhắc lại chuyện xưa là khủng hoảng ngoại hối tại Thái đã lan khắp nơi, gây chấn động mạnh tại các nước mắc nợ ngoại quốc nhiều nhất, rồi dội qua xứ Brazil và Liên bang Nga rồi từ Nga chạy ngược về Hoa Kỳ làm một tổ hợp đầu tư đối xung, hay hedge fund, của Mỹ bị vỡ nợ năm 1998. Trước cơn chấn động ấy, các quốc gia lâm nạn, kể cả Nhật, đều rút tỉa bài học là phải coi chừng sức bùng phá của thị trường hay các nghiệp vụ đầu cơ và nhất là đừng dại dột ấn định trị giá nội tệ quá cao nếu không có một lượng dự trữ ngoại tệ đủ dày.
- Từ kinh nghiệm Đông Á đó, đa số các nước thay đổi chiến lược vĩ mô. Đó là ấn định hối suất thấp để xuất khẩu bằng mọi giá và gom tiền về lập một khối dự trữ ngoại tệ rất lớn. Ngày nay, tổng số dự trữ ngoại tệ trên thế giới, nếu tính bằng Mỹ kim, đã lên hơn gấp đôi so với ba bốn năm trước. Đứng đầu là Trung Quốc với 2.300 tỷ đô la, sau là Nhật với 1.050 tỷ, khối Euro có 760 tỷ, Liên bang Nga 400 tỷ, xứ Saudi Arabia có 395 tỷ, Đài Loan 350 tỷ, Ấn Độ gần 300 tỷ, Nam Hàn 270 tỷ và Brazil chừng 230 tỷ, đây là các con số tính đến tháng Chín vừa qua.
Dự trữ ngoại tệ trở thành kho đầu tư
Việt Long: Khi các nước ghim nhiều tiền như vậy thì đâu có phải là để trang trải yêu cầu về nhập khẩu hoặc những biến động ngoại hối do đầu tư hay vay mượn về tài chính nữa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng và nếu kể thêm quỹ đầu tư quốc doanh của các chính quyền đem đầu tư kiếm lời trên các thị trường tài chính quốc tế thì khả năng dự trữ ngoại tệ còn lớn hơn gấp bội. Khi ấy, và đây là chức năng mới, khối dự trữ ngoại tệ là một kho đầu tư có khả năng đối phó được với các làn sóng đầu cơ trong ngắn hạn để nhắm vào mối lợi dài hạn.
- Khi tích lũy khối dự trữ ngoại tệ lớn lao như vậy trong mục đích đầu tư thì các quốc gia đều tự hỏi là đầu tư vào đâu là có lời nhất và an toàn nhất" Từ câu hỏi ấy, người ta mới nghĩ tiếp về cơ cấu và tỷ phần của khối dự trữ này. Chẳng hạn như giữ bao nhiêu phần trăm dưới dạng vàng, quý kim, bao nhiêu dưới dạng ngoại tệ, mà là ngoại tệ nào... Và dưới dạng tài sản của nước khác như vậy thì bao nhiêu là cổ phiếu, bao nhiêu là trái phiếu hay công khố phiếu"
- Câu hỏi ấy mới quyết định về tương lai của đồng Mỹ kim, tương lai ấy cũng tùy vào mức lưu hoạt và độ an toàn của việc đầu tư tài chính trên thị trường Hoa Kỳ. Và có lẽ là câu trả lời của các nước trong năm qua có góp phần làm Mỹ kim sụt giá vì các nước đã bán Mỹ kim để đa dạng hoá các diện đầu tư thay vì chỉ giữ tài sản bằng đô la Mỹ. Ngược lại, vì chiều dày và chiều rộng, từ phẩm đến lượng, thị trường tài chính Mỹ vẫn là thị trường an toàn nhất với triển vọng có lợi sẽ khả quan hơn, cho nên các nước vẫn còn phải giữ rất nhiều đô la để đầu tư vào đây. Cho nên, bảo rằng phải thay thế Mỹ kim bằng một ngoại tệ khác là người ta đã lầm nhân với quả.
Việt Long: Bây giờ ta trở lại chuyện Việt Nam với mối nguy hối đoái hiện nay. Theo như ông trình bày thì các nước đã thay đổi nhanh và mạnh trong 10 năm qua, mà Việt Nam thì mới chỉ đi tới trình độ dự trữ ngoại tệ làm kho an toàn về ngoại thương mà có lẽ chưa an toàn lắm.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việt Nam bị bội chi ngân sách, tức là chi nhiều hơn thu, bằng với tám tỷ đô la; bị nhập siêu, tức là nhập nhiều hơn xuất khẩu, chừng 12 tỷ đô la trong khi đầu tư nước ngoài và tiền bạc của người Việt ở ngoài gửi về đều sút giảm mạnh. Trong khi ấy, ngoại trái tức là tiền vay ngoại quốc của Việt Nam cũng lại tăng và đã lên tới 40% tổng sản lượng GDP, chưa nguy ngập mà cũng là đáng ngại. Vì vậy, dự trữ ngoại tệ bị hao hụt mất 30% và nay chỉ còn chừng 16 tỷ Mỹ kim, chưa đủ cho ba tháng nhập khẩu. Nếu kể về khả năng dự trữ ngoại tệ so với các nước khác như vừa nói thì Việt Nam đội sổ và khó tránh được khủng hoảng về ngoại hối, là điều mà giới đầu tư nước ngoài đã báo động, gần nhất là lượng định của tập đoàn đầu tư Nomura hôm mùng tám tuần trước. Điều đáng chú ý là trong khi ấy, không thiếu gì người Việt có chức có tiền vẫn đem tiền ra ngoài và tình hình ở nhà càng nguy ngập thì lượng đầu tư ra ngoài như vậy lại càng nhiều. Nhìn về kinh tế thì đấy là một hình thái tẩu tán tư bản khiến tôi ngậm ngùi nghĩ tới trường hợp của Việt Nam Cộng Hoà thời trước.
Việt Long: Chúng tôi được biết là trước 1975, ông đã là Phụ tá Tổng trưởng Tài chính, khi ấy ông thấy việc quản lý ngoại tệ của miền Nam ra sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thời ấy dân số miền Nam có khoảng 24 triệu, và chẳng có cộng đồng hải ngoại gửi tiền về tiếp tế. Thời ấy, Việt Nam vẫn đang có chiến tranh nên sản xuất bị thu hẹp, chưa thể xuất cảng gạo lại chưa có dầu hỏa. Và mấy năm 1973-1974 còn bị cơn chấn động dầu khí và bị Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ. Nhưng miền Nam vẫn giữ đủ 16 tấn vàng, tương đương với chừng 120 triệu Mỹ kim và còn dự trữ ngoại tệ đầu tư ở ngoài trị giá hơn 170 triệu, tổng cộng là gần 300 triệu. So với yêu cầu nhập khẩu thì vẫn là cao. Và dù có đầy biến động ta không thấy có nạn lãnh đạo tẩu tán tài sản như một số báo chí đã xuyên tạc, cho nên chế độ mới đã lấy đủ số vàng này đem đi đâu mất, rồi còn gây ra khủng hoảng kinh tế. Sau này còn đòi lại dự trữ ngoại tệ của chính quyền cũ đầu tư ở bên Mỹ, tính cả vốn lẫn lãi kép thì cũng là mấy trăm triệu. Tôi thấy ngậm ngùi là vì cái cảnh phú quý giật lùi như vậy.

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.