Hôm nay,  

Dự Trữ Ngoại Tệ

16/12/200900:00:00(Xem: 9640)

Dự Trữ Ngoại Tệ

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...Việt Nam đội sổ và khó tránh được khủng hoảng về ngoại hối...
Trước đà sụt giá của Mỹ kim từ đầu năm nay, nhiều quốc gia đã nêu vấn đề là đô la của Mỹ có đáng là một ngoại tệ dự trữ hay không. Tiết mục chuyên đề Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi đó với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa thì được hỏi ngược lại, rằng dự trữ ngoại tệ là để làm gì" Quả vậy, chức năng của khối dự trữ ngoại tệ dường như đã có thay đổi theo thời gian như chúng ta có thể thấy qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện sau đây với ông Nguyễn Xuân Nghĩa.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Khi đô la Mỹ sụt giá thì nhiều quốc gia đã nêu vấn đề về vai trò ngoại tệ dự trữ của đồng bạc xanh, như người ta hay gọi đồng Mỹ kim. Như ông có hỏi ngược, xin ông cho biết là dự trữ ngoại tệ hiện giữ chức năng gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa nếu hiểu rõ chức năng hiện tại so với quá khứ của khối dự trữ ngoại tệ thì ta có thể suy ngược lên, xem đồng Mỹ kim nay có đáng là một ngoại tệ dự trữ nữa không. Một đồng bạc được coi là ngoại tệ dự trữ khi các nước muốn giữ đồng bạc ấy trong khối dự trữ ngoại tệ của mình. Nếu biết về mục tiêu duy trì khối dự trữ ngoại tệ để làm gì thì ta sẽ suy ra là trong cái rổ gồm có nhiều ngoại tệ ta nên giữ bao nhiêu dưới dạng Mỹ kim.
Việt Long: Chính là vì câu hỏi đó nên chương trình kỳ này sẽ tìm hiểu về chức năng của khối dự trữ ngoại tệ. Như cách ông vừa trình bày thì hình như chức năng ấy có thay đổi với thời gian và chức năng hiện tại lại có khác với ngày trước. Có đúng như vậy hay không"
Những chức năng đổi thay của khối dự trữ ngoại tệ
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta cần trở lại chuyện xưa để hiểu ra sự chuyển hoá chức năng đó.
- Sau Thế chiến II, Hoa Kỳ là cường quốc giàu nhất và góp phần tái thiết các quốc gia từ Âu qua Á nên hệ thống tiền tệ quốc tế mặc nhiên đưa Mỹ kim lên ngôi vị ngoại tệ dự trữ và xứ nào cũng định giá đồng bạc của mình theo đồng đô la. Khi ấy, Hoa Kỳ cũng hứa định giá Mỹ kim là 35 đồng thì ăn một troy ounce vàng, tương đương với chừng 31 gram. Nhưng từ tháng Tám năm 1971, Hoa Kỳ đơn phương bứt đứt neo vàng ấy, mặc nhiên thả nổi và phá giá đồng bạc. Khi ấy, các nước vẫn thực tế theo đuổi chế độ định giá nội tệ của quốc gia theo Mỹ kim, lâu lâu lại điều chỉnh căn cứ trên sự khác biệt về vật giá hay lạm phát của xứ mình và của Mỹ. Đó là về quy chế. 
- Sau Thế chiến II, xứ nào cũng cố xuất khẩu cho nhiều để đủ ngoại tệ tài trợ việc nhập khẩu cần thiết cho tái thiết và phát triển. Vì đô la là phương tiện giao hoán phổ biến nhất nên xứ nào cũng ghim sẵn một số đô la trong túi để kịp thanh toán chênh lệch về ngoại thương. Cụ thể là phải có đủ đô la tài trợ yêu cầu nhập khẩu cho ba tháng. Mà nhập khẩu càng nhiều thì dự trữ ngoại tệ càng cao. Khi đó, khối dự trữ ngoại tệ có chức năng an toàn ngoại thương. Vì Mỹ kim là ngoại tệ dự trữ như vậy, Hoa Kỳ tất nhiên là có lợi khi mua bán, phát hành và nhất là vay mượn vì nơi nào cũng có đô la. Ngược lại các nước cũng ấn định hối suất đô la hay tỷ giá đồng bạc với tiền Mỹ sao cho có lợi về xuất khẩu mà vẫn không có khác biệt thái quá vì hối suất thấp sẽ làm hàng nhập khẩu đắt hơn.
Việt Long: Thế rồi chức năng ấy bắt đầu thay đổi từ lúc nào, vì lý do gì và nay đang đi tới đâu"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chế độ neo giá đồng nội tệ vào Mỹ kim theo một tỷ giá nhất định ấy quá cứng ngắc nên dần dần được bỏ, để cho thị trường quyết định về hối suất theo quy luật cung cầu. Việc ấy càng trở thành phổ biến khi Chiến tranh lạnh kết thúc, là từ đầu thập niên 90, và khi tư bản được tự do giao dịch giữa các nước. Trên lý thuyết thì các nước khỏi cần dự trữ ngoại tệ nữa vì về dài thì sai biệt hối suất trên thị trường sẽ tự đồng điều chỉnh sai biệt về xuất nhập khẩu. Nhập siêu sẽ giảm dần nhờ hốt suất thấp chẳng hạn. Thực tế thì các nước vẫn cần dự trữ ngoại tệ để ứng phó với những sai lệch quá lớn về hối suất trên thị trường hối đoái hay ngoại hối quốc tế. Cụ thể là có ngoại tệ để kịp bán ra hầu giữ cho đồng nội tệ khỏi mất giá.
Dự trữ ngoại tệ để ứng phó với biến động tài chính
Việt Long: Như vậy, theo chế độ hối suất tự do ấy thì chức năng an toàn của dự trữ ngoại tệ vẫn còn nguyên vẹn"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chẳng những nguyên vẹn mà còn tăng, nhưng không vì ngoại thương mà vì lý do ngoại hối. Đã thế, vì quy chế tự do chuyển dịch tư bản, cụ thể là tiền có thể chảy từ xứ này qua xứ khác, ta có một rủi ro mới. Đó là thị trường có quyền vay mượn và đầu tư bằng ngoại tệ của xứ khác. Vì vậy, dự trữ ngoại tệ phải có mức tối thiểu nào đó, không tính theo ba tháng nhập khẩu mà tính qua số nợ ngoại quốc sẽ đáo hạn trước mắt, trong đó có công trái của nhà nước và nợ của tư doanh. Ngược lại, khi đi vay thì cũng phải tính xem có khả năng trả nợ bằng xuất khẩu hay không. Sở dĩ như vậy vì, thí dụ như khi thấy lãi suất tại Mỹ quá rẻ, người ta vay tiền trên thị trường Mỹ đem về cho vay lại ở nhà với phân lời cao hơn, hoặc đầu tư để kiếm lợi nhiều hơn, và có khi lại thổi lên bong bóng. Khi đó, các nước phải có sẵn dự trữ đủ cao để phòng xa bóng bể, chủ nợ rút vốn đem về hoặc đem qua thị trường khác có lời hơn.
- Thế rồi vì muốn giữ giá đồng Bath cho cao - cao hơn tỷ giá tự nhiên của thị trường - lại không đủ dự trữ cho lượng giao dịch quá lớn, tháng Bảy năm 1997, Thái Lan phải thả nổi, tức là bứt neo và phá giá đồng Bath, và bị biến động hối đoái khiến Đông Á bị khủng hoảng năm 1997-1998 rồi bị suy trầm nặng. Đấy là biến cố lịch sử làm thay đổi chức năng của dự trữ ngoại tệ.


Việt Long: Nghe đến đây thì tôi giật mình nghĩ tới trường hợp Việt Nam ngày nay với tỷ lệ vay nợ ngoại quốc quá cao và dự trữ ngoại tệ quá thấp.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ trở lại chuyện đáng ngại ở Việt Nam trong phần cuối.
- Chỉ xin nhắc lại chuyện xưa là khủng hoảng ngoại hối tại Thái đã lan khắp nơi, gây chấn động mạnh tại các nước mắc nợ ngoại quốc nhiều nhất, rồi dội qua xứ Brazil và Liên bang Nga rồi từ Nga chạy ngược về Hoa Kỳ làm một tổ hợp đầu tư đối xung, hay hedge fund, của Mỹ bị vỡ nợ năm 1998. Trước cơn chấn động ấy, các quốc gia lâm nạn, kể cả Nhật, đều rút tỉa bài học là phải coi chừng sức bùng phá của thị trường hay các nghiệp vụ đầu cơ và nhất là đừng dại dột ấn định trị giá nội tệ quá cao nếu không có một lượng dự trữ ngoại tệ đủ dày.
- Từ kinh nghiệm Đông Á đó, đa số các nước thay đổi chiến lược vĩ mô. Đó là ấn định hối suất thấp để xuất khẩu bằng mọi giá và gom tiền về lập một khối dự trữ ngoại tệ rất lớn. Ngày nay, tổng số dự trữ ngoại tệ trên thế giới, nếu tính bằng Mỹ kim, đã lên hơn gấp đôi so với ba bốn năm trước. Đứng đầu là Trung Quốc với 2.300 tỷ đô la, sau là Nhật với 1.050 tỷ, khối Euro có 760 tỷ, Liên bang Nga 400 tỷ, xứ Saudi Arabia có 395 tỷ, Đài Loan 350 tỷ, Ấn Độ gần 300 tỷ, Nam Hàn 270 tỷ và Brazil chừng 230 tỷ, đây là các con số tính đến tháng Chín vừa qua.
Dự trữ ngoại tệ trở thành kho đầu tư
Việt Long: Khi các nước ghim nhiều tiền như vậy thì đâu có phải là để trang trải yêu cầu về nhập khẩu hoặc những biến động ngoại hối do đầu tư hay vay mượn về tài chính nữa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng và nếu kể thêm quỹ đầu tư quốc doanh của các chính quyền đem đầu tư kiếm lời trên các thị trường tài chính quốc tế thì khả năng dự trữ ngoại tệ còn lớn hơn gấp bội. Khi ấy, và đây là chức năng mới, khối dự trữ ngoại tệ là một kho đầu tư có khả năng đối phó được với các làn sóng đầu cơ trong ngắn hạn để nhắm vào mối lợi dài hạn.
- Khi tích lũy khối dự trữ ngoại tệ lớn lao như vậy trong mục đích đầu tư thì các quốc gia đều tự hỏi là đầu tư vào đâu là có lời nhất và an toàn nhất" Từ câu hỏi ấy, người ta mới nghĩ tiếp về cơ cấu và tỷ phần của khối dự trữ này. Chẳng hạn như giữ bao nhiêu phần trăm dưới dạng vàng, quý kim, bao nhiêu dưới dạng ngoại tệ, mà là ngoại tệ nào... Và dưới dạng tài sản của nước khác như vậy thì bao nhiêu là cổ phiếu, bao nhiêu là trái phiếu hay công khố phiếu"
- Câu hỏi ấy mới quyết định về tương lai của đồng Mỹ kim, tương lai ấy cũng tùy vào mức lưu hoạt và độ an toàn của việc đầu tư tài chính trên thị trường Hoa Kỳ. Và có lẽ là câu trả lời của các nước trong năm qua có góp phần làm Mỹ kim sụt giá vì các nước đã bán Mỹ kim để đa dạng hoá các diện đầu tư thay vì chỉ giữ tài sản bằng đô la Mỹ. Ngược lại, vì chiều dày và chiều rộng, từ phẩm đến lượng, thị trường tài chính Mỹ vẫn là thị trường an toàn nhất với triển vọng có lợi sẽ khả quan hơn, cho nên các nước vẫn còn phải giữ rất nhiều đô la để đầu tư vào đây. Cho nên, bảo rằng phải thay thế Mỹ kim bằng một ngoại tệ khác là người ta đã lầm nhân với quả.
Việt Long: Bây giờ ta trở lại chuyện Việt Nam với mối nguy hối đoái hiện nay. Theo như ông trình bày thì các nước đã thay đổi nhanh và mạnh trong 10 năm qua, mà Việt Nam thì mới chỉ đi tới trình độ dự trữ ngoại tệ làm kho an toàn về ngoại thương mà có lẽ chưa an toàn lắm.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việt Nam bị bội chi ngân sách, tức là chi nhiều hơn thu, bằng với tám tỷ đô la; bị nhập siêu, tức là nhập nhiều hơn xuất khẩu, chừng 12 tỷ đô la trong khi đầu tư nước ngoài và tiền bạc của người Việt ở ngoài gửi về đều sút giảm mạnh. Trong khi ấy, ngoại trái tức là tiền vay ngoại quốc của Việt Nam cũng lại tăng và đã lên tới 40% tổng sản lượng GDP, chưa nguy ngập mà cũng là đáng ngại. Vì vậy, dự trữ ngoại tệ bị hao hụt mất 30% và nay chỉ còn chừng 16 tỷ Mỹ kim, chưa đủ cho ba tháng nhập khẩu. Nếu kể về khả năng dự trữ ngoại tệ so với các nước khác như vừa nói thì Việt Nam đội sổ và khó tránh được khủng hoảng về ngoại hối, là điều mà giới đầu tư nước ngoài đã báo động, gần nhất là lượng định của tập đoàn đầu tư Nomura hôm mùng tám tuần trước. Điều đáng chú ý là trong khi ấy, không thiếu gì người Việt có chức có tiền vẫn đem tiền ra ngoài và tình hình ở nhà càng nguy ngập thì lượng đầu tư ra ngoài như vậy lại càng nhiều. Nhìn về kinh tế thì đấy là một hình thái tẩu tán tư bản khiến tôi ngậm ngùi nghĩ tới trường hợp của Việt Nam Cộng Hoà thời trước.
Việt Long: Chúng tôi được biết là trước 1975, ông đã là Phụ tá Tổng trưởng Tài chính, khi ấy ông thấy việc quản lý ngoại tệ của miền Nam ra sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thời ấy dân số miền Nam có khoảng 24 triệu, và chẳng có cộng đồng hải ngoại gửi tiền về tiếp tế. Thời ấy, Việt Nam vẫn đang có chiến tranh nên sản xuất bị thu hẹp, chưa thể xuất cảng gạo lại chưa có dầu hỏa. Và mấy năm 1973-1974 còn bị cơn chấn động dầu khí và bị Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ. Nhưng miền Nam vẫn giữ đủ 16 tấn vàng, tương đương với chừng 120 triệu Mỹ kim và còn dự trữ ngoại tệ đầu tư ở ngoài trị giá hơn 170 triệu, tổng cộng là gần 300 triệu. So với yêu cầu nhập khẩu thì vẫn là cao. Và dù có đầy biến động ta không thấy có nạn lãnh đạo tẩu tán tài sản như một số báo chí đã xuyên tạc, cho nên chế độ mới đã lấy đủ số vàng này đem đi đâu mất, rồi còn gây ra khủng hoảng kinh tế. Sau này còn đòi lại dự trữ ngoại tệ của chính quyền cũ đầu tư ở bên Mỹ, tính cả vốn lẫn lãi kép thì cũng là mấy trăm triệu. Tôi thấy ngậm ngùi là vì cái cảnh phú quý giật lùi như vậy.

Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
Trong chương trình phát hình kéo dài hơn 6 phút trên đài truyền hình quốc gia VTV vào tối ngày 16/08/2026, lần đầu tiên, sau gần một năm rưỡi, công chúng mới được nghe công bố công khai cái gọi là kết quả điều tra về vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội. Bản tin xác nhận người cầm lái xe ô tô lấn trái, vi phạm Luật Giao thông Đường bộ làm chết một nữ sinh và khiến người cha mang thương tích nặng chính là cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.