Hôm nay,  

Đạo Hòa Hảo Trong Lịch Sử (1)

26/06/200700:00:00(Xem: 11418)

Trình Bày Tại Lễ Kỷ Niệm 68 Năm Khai Đạo PGHH, Toronto, 24-6-07

1.- BỐI CẢNH ĐỊA LÝ

Phật giáo Hòa Hảo là tông phái Phật giáo do Đức Giáo chủ Hùynh Phú Sổ (1920-1947) khai sáng ngày 18 tháng 5 năm kỷ mão (4-7-1939), tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang), gần biên giới Việt Nam – Cambodia.  Do đó, trước khi nói đến Phật giáo Hòa Hảo, chúng ta nên tìm hiểu sơ lược nơi xuất phát đạo Hòa Hảo.

Châu Đốc nguyên đất của Chân Lạp (Cambodia).  Vào năm 1757, tại Chân Lạp xảy ra tranh chấp ngôi báu.  Chúa Nguyễn là Võ Vương Nguyễn Phúc Khóat (cai trị Đàng Trong 1738-1765) cử Mạc Thiên Tứ, tổng trấn Hà Tiên, cầm quân qua Chân Lạp, lập Nặc Tôn lên ngôi vua tức Outey II (trị vì 1757-1775).

Nặc Tôn cắt đất Tầm Phong Long tặng chúa Nguyễn và cắt năm phủ Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som), Trực Sâm (miền nam Treang), Sài Mạt (Bentey Méas) và Linh Quỳnh tặng Mạc Thiên Tứ.  Chúa Nguyễn lấy đất Tầm Phong Long đặt thành đạo Châu Đốc, nhập vào dinh Long Hồ (vùng Hậu giang ngày nay), và giao năm phủ cho Mạc Thiên Tứ sáp nhập vào trấn Hà Tiên.(1)  Về sau, vua Tự Đức (trị vì 1848-1883) trả năm phủ nầy lại cho Chân Lạp.(2)

Dưới thời các vua nhà Nguyễn, Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang.  Sau khi sáu tỉnh Nam Kỳ chính thức bị nhượng cho Pháp bằng hòa ước 1874, ngày 5-1-1876, thống đốc Pháp là Duperré ký nghị định cải tổ hành chánh, chia Nam Kỳ lục tỉnh thành 4 khu vực hành chánh (circonscription administrative) là Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac.  Mỗi khu vực hành chánh được chia nhỏ thành nhiều tiểu khu hành chánh (arrondissement administratif).  Bassac là vùng phía nam sông Hậu, được chia thành các tiểu khu: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Ôn và Sóc Trăng.(3)  Tiểu khu Châu Đốc tức tỉnh Châu Đốc sau nầy, là nơi có làng Hòa Hảo quận Tân Châu.

Như thế, có thể nói vùng Hòa Hảo, Tân Châu, Châu Đốc là vùng đất nhập Việt tịch trễ nhất trong lịch sử Việt Nam, vào năm 1757 và chỉ hơn một trăm năm sau thì bị Pháp xâm chiếm.

2.- PHẬT GIÁO TỨ ÂN

Người Việt trước đây vốn theo tam giáo Phật, Nho, Lão.  Trong ba đạo giáo trên, lúc đầu, Phật giáo phát triển mạnh dưới thời nhà Lý (1010-1225), nhà Trần (1226-1400).  Qua thời nhà Lê (1428-1789), do ảnh hưởng từ khi Minh thuộc (1407-1428), Nho giáo càng ngày càng thịnh hành. 

Vào thế kỷ 17, nước ta xảy ra nội chiến giữa hai họ Trịnh Nguyễn.  Chúa Trịnh mượn cớ tôn phò vua Lê, hùng cứ đất Bắc.  Chúa Nguyễn muốn tách ra tự lập ở phương Nam, chống lại chúa Trịnh và ở vào thế chống lại vua Lê.

Trong giai đọan chống lại vua Lê, chúa Nguyễn không thể nói chuyện “trung quân”, và đề cao Nho giáo.  Nho giáo là một triết thuyết chính trị hậu thuẫn mạnh mẽ cho chế độ quân chủ.  Để tạm thời thay thế Nho giáo, các chúa Nguyễn phát triển Phật giáo, dùng Phật giáo làm nền tảng tư tưởng và tinh thần, để có thể tập hợp quần chúng.  Các chúa Nguyễn cho xây dựng chùa chiền khắp nơi, mời cả tăng sĩ Trung Hoa sang giảng đạo.

Lúc đó, ở miền Nam, di dân mới bắt đầu khai canh, khẩn hoang, mở ruộng, lập vườn.  Mọi nỗ lực tập trung vào việc sản xuất nông phẩm, xây dựng nông nghiệp.  Làng mạc mới được tổ chức, chưa có chùa chiền, chưa có tăng lữ, chưa có thầy dạy chữ.  Trong khi đó, nhu cầu tâm linh của di dân rất khẩn thiết và rất quan trọng trong cuộc sống mới.  Di dân cần một điểm tựa tinh thần để vững tin trên bước đường mạo hiểm, khai phá.

Đáp ứng nhu cầu nầy, năm 1851, Đoàn Minh Huyên (1807-1856) dựa trên nền tảng giáo lý nhà Phật, đã khai sáng một tông phái Phật giáo mới là Bửu Sơn Kỳ Hương (Núi quý hương kỳ diệu), còn được gọi là đạo Lành, tại làng Long Kiến, Chợ Mới, An Giang.  Ông chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, giản dị hóa nghi thức Phật giáo cho phù hợp với đời sống nông dân, không có tăng sĩ, không cất chùa mà tổ chức khẩn hoang, lập trại cho nông dân vừa sản xuất vừa tu học.  Về tu nhân, Đoàn Minh Huyên khuyến khích dân chúng luôn luôn đền đáp “tứ đại trọng ân” (bốn ân lớn) là; ÂN TỔ TIÊN CHA MẸ, ÂN ĐẤT NƯỚC, ÂN TAM BẢO (trong đạo Phật), ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LỌAI.  Điều đáng chú ý là ngoài “tứ đại trọng ân”, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không có giáo lý gì khác được đưa ra, và căn bản vẫn là cách tu tập theo Phật giáo cổ truyền. 

Lúc bấy giờ, các quan chức địa phương nghi ngờ Đoàn Minh Huyên hoạt động chính trị, nên chuyển ông về chùa Tây An trên núi Sam (cũng ở An Giang) để dễ kiểm soát.  Có thể vì vậy, dân chúng gọi ông là Phật thầy Tây An.(4)  Sự nghi ngờ của các quan chức nhà Nguyễn chứng tỏ Phật thầy Tây An đã được khá đông quần chúng tin theo, nên các quan chức lo ngại ông làm loạn.

Thông thường, các tổ chức thế quyền của các tôn giáo liên kết với các thế lực cầm quyền để phát triển.  Các nhà cầm quyền cũng thích liên kết với các tổ chức thế quyền của tôn giáo để củng cố và bảo vệ quyền lực.  Ngay như Phật giáo Việt Nam trước đây, được các triều đại Lý Trần hỗ trợ, và ngược lại các tăng lữ Phật giáo ủng hộ hai triều đại Lý, Trần.

Điểm đặc biệt của Phật giáo Tứ Ân là xuất phát từ dân chúng, chỉ phục vụ nhu cầu tâm linh và đời sống của dân chúng, không có hệ thống giáo quyền, không dựa vào chính quyền, và không phục vụ chính quyền.  Nhu cầu đời sống của dân chúng lúc đó là tổ chức canh tác, khai khẩn đất hoang, sản xuất nông nghiệp. 

Phật thầy Đoàn Minh Huyên từ trần năm 1856 tại chùa Tây An.  Lúc bấy giờ, tại miền Nam, xuất hiện nhiều vị sư theo khuynh hướng Bửu Sơn Kỳ Hương như Phật Trùm mà không ai biết tên, Đức Bổn sư Ngô Văn Lợi (hành đạo khoảng 1870-1890), Sư Vải Bán Khoai (hành đạo khỏang 1901-1902) và Nguyễn Đa (gốc Bình Định, hành đạo cuối thế kỷ 19).(5)

Phật thầy Tây An có 12 đại đệ tử gọi là Thập nhị hiền thủ, trong đó nổi tiếng nhất là Trần Văn Thành và Nguyễn Văn Thới.  Trần Văn Thành, thường được gọi là Cố Quản, giữ chức chánh quản cơ, khởi nghĩa chống Pháp ở Láng Linh (An Giang) cuối năm 1872, nhưng bị thất bại và mất tích năm 1873.  Nguyễn Văn Thới (1866-1927), thường được gọi là Ba Thới, tác giả bộ Kim cổ kỳ quan, là một tác phẩm chú giải và khai triển giáo lý tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương.

Giai đọan Ba Thới và bộ Kim cổ kỳ quan có thể xem là thời kỳ chuyển tiếp từ Phật giáo Tứ Ân sang một tông phái mới là Phật giáo Hòa Hảo.

3.- PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) do Đức thầy Huỳnh Phú Sổ thành lập tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang), ngày 18 tháng 5 năm kỷ mão (4-7-1939).  Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ sinh ngày 25 tháng 11 năm kỷ mùi (15-01-1920), là con trai đầu của ông Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị Nhậm, một gia đình nông dân trung lưu.

Tiếp nối Phật giáo Tứ Ân, đạo Hòa Hảo chủ trương cải cách đạo Phật theo đúng với đời sống thực tế của nông dân, không thiết lập giai cấp tăng lữ, không tổ chức giáo quyền, không tích lũy giáo sản, không chú trọng đến hình thức, không làm chùa nguy nga, không tạc tượng, đúc chuông, không đốt vàng mã, khuyến khích các nghi lễ giản dị trong việc thờ phụng, cưới xin, tang lễ.

Sự nghiệp truyền giáo của Đức thầy Huỳnh Phú Sổ có thể chia thành hai giai đọan: 

Giai đọan thứ nhất (1939-1942):  Từ khi khai đạo, Đức thầy Huỳnh Phú Sổ vừa thuyết pháp, vừa sáng tác nhiều kệ giảng, dựa trên giáo lý nhà Phật, khuyên người gắng sức tu hành để thoát những tai ương do thời cuộc đưa đến.  Những kệ giảng của Đức thầy thuần túy bằng tiếng Việt, rất giản dị, lại có vần điệu, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ và dễ lập lại hằng ngày trong cuộc sống, nên rất dễ phổ biến.  Trong giai đọan nầy Đức thầy đã sáng tác năm sách kệ giảng, gồm tổng cộng 3,602 câu thơ.

Phật giáo Hòa Hảo càng ngày càng phát triển, khiến người Pháp lo ngại.  Ngày 18- 5-1940, tức khoảng một năm sau ngày khai đạo, Pháp giải Đức thầy Huỳnh Phú Sổ từ làng Hòa Hảo về Châu Đốc để điều tra.  Sau đó, Pháp đưa ông về Sa Đéc, rồi về làng Nhơn Nghĩa, rạch Xà No, tỉnh Cần Thơ, quản thúc từ ngày 23-5-1940.  Nhiều tín đồ Hòa Hảo được tin, liền tìm đến thăm.  Vì vậy, sau ba tháng ở Cần Thơ, người Pháp đưa ông lên Sài Gòn, an trí tại nhà thương điên Chợ Quán.(6)  Ngày 5-6-1941, người Pháp lại dời Huỳnh giáo chủ về Bạc Liêu.  Do sự can thiệp của quân đội Nhật, Huỳnh giáo chủ được thả và được đưa về sống ở Sài Gòn từ tháng 10-1942. 

Giai đọan thứ hai (1942-1947):  Do hoàn cảnh chính trị, từ năm 1942 Đức thầy Huỳnh Phú Sổ bắt đầu tiếp xúc với các nhân vật chính trị Nam phần, và bắt đầu dấn thân vào con đường họat động chính trị.  Năm 1944, Huỳnh Phú Sổ thành lập Bảo An Đoàn PGHH tại một số tỉnh miền Tây. 

Vào đầu năm 1945, về mặt đạo, ông tiến hành thành lập ban trị sự tỉnh hội PGHH.  Đức thầy cho xuất bản sách Cách tu hiền và sự ăn ở của một người bổn đạo bằng văn xuôi, lưu loát, minh giải về “tứ ân, tam nghiệp, thập ác, bát chánh” trong đạo Phật, và giảng về nghi thức thờ phụng, cúng lạy, tang lễ, hôn nhân…

Cũng trong năm 1945, về phương diện chính trị, Huỳnh giáo chủ lập Việt Nam Vận Động Hội để tranh đấu đòi độc lập và thống nhất cho xứ sở.  Từ đây, có thể nói Đức thầy Huỳnh Phú Sổ tham gia tích cực vào cuộc vận động cho nền tự do dân chủ của đất nước.  Khuynh hướng nầy được Đức thầy bày tỏ trong bốn câu đầu bài “Quyết rứt cà sa”, thơ thất ngôn liên hoàn, sáng tác năm 1946 như sau:

“Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau,

Quyết rứt cà sa khoác chiến bào,

Đuổi bọn xâm lăng, gìn đất nước,

Ngọn cờ độc lập phất phơ cao…”(7)

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 24-6-2007)

CHÚ THÍCH

1. Quốc sử quán nhà Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, quyển X, bản dịch tập 1, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 2001, tr. 166.

2. Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, quyển hạ, Houston: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 446.

3. Alfred Schreiner, Abrégé de l’histoire d’Annam, Saigon: 1906, tr. 338.

4. Hùynh Ngọc Trảng chủ biên, Sổ tay hành hương Đất phương Nam, Nxb. TpHCM, 2002, tr. 389.  Cũng theo tác giả sách nầy, danh xưng Tây An có thể bắt nguồn từ sắc chỉ của vua Thiệu Trị ban cho Doãn Uẩn là “An Tây mưu lược tướng quân”, vì ông đã có công bình định miền Tây.

5. Các tài liệu viết về Phật thầy Đoàn Minh Huyên và các vị trong tông phái nầy, dựa trên tài liệu của: http://hoahao.org/default.asp"catid=21&nid=7530

6. Tại miền Nam, có câu ca dao: “Bao giờ Chợ Lớn hết vôi / Tàu Tây hết chạy, thì tôi hết khùng.”  Có thể câu ca dao nầy nhắm chỉ Huỳnh giáo chủ  vì ông đã từng viết quyển Kệ dân của người khùng dài 476 câu, xuất bản lần đầu năm 1939, và nay Đức Huỳnh giáo chủ bị Pháp (Tây) bắt an trí ở nhà thương điên Chợ Quán, gần Chợ Lớn.

7. Ngoài địa chỉ Internet trên đây, tài liệu viết về Đức thầy Huỳnh Phú Sổ còn theo sách: Sấm giảng thi văn tòan bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, do Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo Hải ngọai ấn hành, Houston: 2004.

Ngày xưa, vào trang điện tử của chính phủ Hoa Kỳ, người ta có thể tìm thấy bản Tuyên Ngôn Độc Lập, đọc Hiến Pháp, học một đạo luật được làm ra thế nào, tìm hiểu quyền và bổn phận công dân trong một nền cộng hòa. Bây giờ, vào trang điện tử chính thức của Bạch Ốc, ngoài chuyện coi tổng thống nói gì, chê ai, chửi ai, công dân được mời chơi trò trục xuất di dân. Không phải "fake news". Cũng không phải chuyện tiếu lâm. Ngày 3 tháng Chín tuần qua, trên whitehouse.gov, Bạch Ốc khai trương một khu Arcade, gồm năm trò chơi kiểu những máy điện tử ngày xưa với lời rao ngắn gọn: "Build the wall. Deport. Fill a Trump Account." Xây tường. Trục xuất. Bỏ tiền đầy vào trương mục Trump. Một khu arcade hay một dạng sòng bài trên mạng, nơi người vào chơi không đánh cược bằng tiền, mà bằng lương tri.
Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.