Hôm nay,  

Một Thời Mong Những Trang Thư

20/03/201300:00:00(Xem: 8185)
Tôi hay viết thư. Từ ngày còn ở quê nhà tôi đã thích viết thư, vì muốn khám phá những chân trời xa lạ qua trang thư của người quen, vì muốn giữ tình thân với bạn bè. Phần nữa, tôi thích sưu tầm tem thư, nên những con tem trên phong thư là những gì tôi quí vì qua đó học được nhiều nét văn hoá, lịch sử của quê hương, của các nước.

Nghe đài nước ngoài, thấy có chương trình hay về văn hoá thế giới, giúp mở mang kiến thức, tôi viết thư khen ban biên tập hoặc có ý kiến, đề nghị và thỉnh thoảng nhận được quà tặng là những tấm bưu thiếp hình sinh hoạt đời sống, là quyển lịch nhỏ hay tập sách học tiếng Anh.

Thời đó đang tuổi hoa niên nên tôi còn đọc trang “Kết bạn thư tín” trên báo để tìm bạn bốn phương và có gửi thư làm quen vài lần nhưng đều bặt tin, như ca từ của một bài hát phổ thông trong đầu thập niên 1970: “Theo năm tháng hoài mong / Thư gửi đi mấy lần / Đợi hồi âm chưa thấy”.

Thích đùa nghịch, mấy đứa con trai bọn tôi thỉnh thoảng còn tụ nhau lại, giả làm con gái viết lời tìm bạn đăng báo để xem có anh nào cảm thấy muốn chia sẻ tâm trạng “hay buồn, yêu màu tím, thích nhạc Trịnh Công Sơn” mà muốn làm quen hay không. Nhưng cũng chỉ là những hoài mong.

Bây giờ nghĩ lại, không biết có ai qua mục kết bạn thư tín trên các báo ở Sài Gòn mà đã tìm được tình thân lâu dài hay có những cuộc tình đằm thắm, đơm hoa kết trái?

Ngày đó người đưa thư ở nơi tôi sống chạy xe Honda 50 cc với hai bao da đựng thư đeo hai bên yên sau. Mỗi ngày, vào khoảng gần trưa, đến trước địa chỉ trên phong bì, ông gọi to: “Nhà có thư”.
buivanphu_20130319_buudien_h01_daiuc
Thư từ chương trình Việt ngữ đài Úc gửi cho tác giả năm 1970. (ảnh Bùi Văn Phú)
Ngõ nhà tôi ở chỉ vài địa chỉ thường có thư, trong đó có nhà tôi và nhà đứa bạn có anh là lính hải quân đang tu nghiệp ở Hoa Kỳ. Đây là ông anh hàng xóm rất quý mến tôi vì tôi chơi thân với đứa em của anh ấy từ ngày còn nhỏ. Khi anh đi Mỹ thì người em của anh cũng vào quân đội và thường xa nhà nên anh liên lạc với tôi để có tin gia đình, để biết tình hình xóm ngõ. Anh viết thư kể chuyện nước Mỹ, thỉnh thoảng kèm hình. Có hình ngoài bãi biển với mấy cô gái tóc vàng xinh ơi là xinh, có hình ở trung tâm giải trí thơ mộng, đông người bên những trò chơi sặc sỡ mầu sắc.

Những cánh thư có thể đã bị an ninh của Việt Nam Cộng hoà mở đọc trước vì theo lời một người thân trong ngành cảnh sát cho biết tại bưu điện có một sĩ quan an ninh lo việc đọc thư, nhất là những thư gửi về từ nước ngoài.

Tháng 4-1975 tôi bị bật gốc ra khỏi quê hương, bỏ lại gia đình, bạn bè. Những ngày đầu sống ở Mỹ mong chờ thư quê nhà là niềm vui lúc đầy và dần dần là những đau khổ bất ngờ.

Những cánh thư đầu tiên tôi viết về nhà được gửi qua nước thứ ba như Nhật, Hồng Kông, Pháp, Thụy Sĩ mà không biết số phận của chúng ra sao.

Một ngày cuối năm 1975 tôi nhận được lá thư nhà đầu tiên gửi qua đường Hồng Kông. Nét chữ của cô em gái như có thoảng hương vị quê nhà đã đem đến cho tôi niềm vui là biết được gia đình bằng an sau cơn biến loạn 30-4, nhưng cũng đầy nước mắt khi hay tin nhiều người thân quen phải đi học tập, các em có đứa phải bỏ học ra đời buôn bán.

Từ đó thư nhà đến với tôi mỗi tháng. Những phong thư đã bị bóc ra rồi dán lại với lớp keo vàng lem nhem phiá sau là dấu chỉ của sự kiểm duyệt. Lúc đầu tôi mong thư vì nỗi nhớ nhà, nhớ các em. Rồi có nhiều lúc tôi sợ nhận thư vì trong những dòng chữ là nỗi lo cho gia đình vì đời sống khó khăn, vì có tin người thân vượt biển, vì những lần các em bị bắt, bị tù.
buivanphu_20130319_buudien_h02_thunha
Thư em gái viết đầu năm 1976. Những bì thư, nét chữ nay đang dần trở thành cổ vật. (ảnh Bùi Văn Phú)
Thư nhà gửi qua chỉ đóng dấu bưu phí bằng máy mà tôi không hiểu vì sao. Vẫn thích sưu tầm tem thư, một lần tôi nhắn nhà dùng tem thư để gửi thì được tin là nếu làm thế, tem thư dễ bị bóc cắp và thư sẽ thất lạc.

Trong cuộc sống mới tôi cũng chờ thư của các bạn mới quen trên đường tị nạn như những niềm vui. Lúc mới đến sống ở Berkeley, nhận thư từ San Jose, Napa gần bên nhưng thấy sao xa quá. Chưa nói đến những lá thư miền nam California hay Texas, New York, Hawaii xa vời vợi. Nhìn bản đồ mà không biết bao giờ mới có dịp đến những nơi đó.

Qua những cánh thư tôi liên lạc được với ông anh hàng xóm định cư ở Connecticut mới trải qua mùa đông lạnh như đá, với cô bạn học cũ ở Nguyễn Bá Tòng đang ở New York có chồng là sĩ quan không quân bị kẹt lại mà không biết số phận ra sao, với anh bạn du học năm 1973 hiện ở Đại học Texas A&M, với một vài người ở West Virginia nay là người thân bên gia đình chồng của cô em gái vội vàng kết hôn sau ngày 30-4 vì sợ phải lấy bộ đội.

Một cô bạn cựu sinh viên ban văn chương Đại học Sài Gòn tôi quen trong trại tị nạn Camp Pendleton là người hay viết thư nhất sau khi rời trại. Gia đình cô định cư ở miền nam California mà sau này là Little Saigon. Cứ một vài tuần chúng tôi lại nhận được thư của nhau, kể cho nhau nghe về đời sống mới, về cái Tết đầu tiên ở Mỹ thiếu hương vị Việt, về những nỗi buồn xa xứ.

Thời đó có bài hát “Mr. Postman” hay phát trên sóng FM với lời ca rất hợp hoàn cảnh trông chờ thư của tôi và của nhiều người tị nạn Việt Nam mới đặt chân đến Hoa Kỳ.

Bây giờ thỉnh thoảng đem chồng thư cũ ra đọc gợi lại nhiều kỷ niệm về gia đình, bạn bè và vẫn còn tạo xúc động.

Tôi đã viết thư về cho gia đình từ khắp nơi, nhiều nhất trong những năm đầu ở Mỹ, rồi thời gian sống ở Phi Châu, ở Á Châu hay những lúc du lịch Âu Châu, Úc Châu. Những cánh thư mà sau này nghe bố mẹ kể rằng mỗi lần nhận đều phải cho tiền người phát thư. Ngược lại tôi cũng nhận rất nhiều thư từ gia đình và bạn bè. Những lá thư theo chân tôi ở khắp năm châu, đem lại nhiều niềm vui trong lúc phiêu bạt giang hồ.
buivanphu_20130319_buudien_h03_thuban
Thư bạn trong những ngày đầu ở Mỹ. (ảnh Bùi Văn Phú)
Gần bốn mươi năm đã qua với nhiều biến đổi. Có những bạn thường liên lạc trong thời gian đầu định cư, nay mất nhau, không biết cuộc sống ổn định nơi nào hay trôi dạt về đâu.

Giữ liên lạc lâu nhất là anh bạn người Singapore. Tôi gặp anh khi con tàu đến nước này vào đầu tháng 5-1975 và anh là lính được gửi lên giữ an ninh. Chúng tôi quen nhau từ đó. Những năm làm việc ở Đông Nam Á vào cuối thập niên 1980 tôi có gặp lại anh và đến nay vẫn liên lạc thăm hỏi nhau. Không còn qua những lá thư viết tay mà bằng email.

Từ khi bùng nổ cách mạng công nghệ thông tin thì cách con người giao tiếp với nhau thay đổi nhiều.

Liên lạc với quê nhà cũng thay đổi theo. Từ ngày đường điện thoại được nối lại giữa Mỹ và Việt Nam vào năm 1991 những cánh thư từ đó bắt đầu thưa dần. Ngày nay với phát triển của Internet thì sẽ là điều hiếm hoi nếu vẫn còn nhận được những dòng thư viết tay gửi qua đường bưu điện.

Mr. Postman, người đưa thư, bây giờ mỗi ngày vẫn lái chiếc xe có mầu xanh trắng quen thuộc qua khu tôi ở, bỏ vào hòm thư trước nhà những tờ quảng cáo, tạp chí, nhưng không còn đem theo chút hương quê nhà hay tình thân của bạn bè mà tôi đã một thời mong đợi. Vào mỗi buổi chiều khi tan trường về.

© 2013 Buivanphu.wordpress.com

Ngày xưa, vào trang điện tử của chính phủ Hoa Kỳ, người ta có thể tìm thấy bản Tuyên Ngôn Độc Lập, đọc Hiến Pháp, học một đạo luật được làm ra thế nào, tìm hiểu quyền và bổn phận công dân trong một nền cộng hòa. Bây giờ, vào trang điện tử chính thức của Bạch Ốc, ngoài chuyện coi tổng thống nói gì, chê ai, chửi ai, công dân được mời chơi trò trục xuất di dân. Không phải "fake news". Cũng không phải chuyện tiếu lâm. Ngày 3 tháng Chín tuần qua, trên whitehouse.gov, Bạch Ốc khai trương một khu Arcade, gồm năm trò chơi kiểu những máy điện tử ngày xưa với lời rao ngắn gọn: "Build the wall. Deport. Fill a Trump Account." Xây tường. Trục xuất. Bỏ tiền đầy vào trương mục Trump. Một khu arcade hay một dạng sòng bài trên mạng, nơi người vào chơi không đánh cược bằng tiền, mà bằng lương tri.
Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.