Hôm nay,  

Trăng, Sao và Sương

16/06/201715:49:00(Xem: 7037)
Trăng, Sao và Sương
 
-Cao Minh Hưng-

 

Lần đầu tiên tôi có dịp biết thêm nhiều về Thi sĩ, Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh khi tôi có dịp phỏng vấn cô và phu quân của cô là Nhà văn Nguyễn Quang trong chương trình Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ Talk Show.  Trước đây, tôi cũng có dịp gặp cô trong một vài buổi họp của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.  Người phụ nữ với vóc dáng nhỏ bé và yếu ớt vịn tay chồng đến tham dự những buổi họp.  Thường thì cô ít khi nào phát biểu, lặng lẽ đến, nghe và ra về. 

 

Tôi có thói quen dành ra vài giờ trước ngày thâu hình để tìm tài liệu về người khách mà tôi sẽ phỏng vấn trong chương trình talk show.  Trước đó, nhà văn Nguyễn Quang đã ân cần gửi cho tôi quyển sách "Ốc Muợn Hồn" của ông cũng như quyển sách "Văn Nghiệp và Cuộc Đời của Minh Đức Hoài Trinh" do ông thực hiện.

 

Mở quyển sách "Văn Nghiệp và Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh", tôi say sưa đọc những bài viết, những hình ảnh về cuộc đời và những sinh hoạt của cô.  Càng đọc, tôi càng mến phục và thấy rằng trước đây mình biết quá ít về cô, ngoài những lần gặp mặt trong những buổi họp hay những bài hát được phổ nhạc từ một số bài thơ của cô mà thôi.

 

Sau biến cố tháng Tư đen năm 1975, Văn Bút Việt Nam bị chính quyền cộng sản bức tử và Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là người đã bỏ nhiều công sức để vận động Văn Bút Quốc Tế (VBQT) công nhận Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.  Tôi rất cảm động khi đọc đến đoạn Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh "quá vui mừng, miệng thì cười nhưng nước mắt không ngừng rơi" khi Bồi thẩm đoàn VBQT tuyên bố với 25 phiếu thuận và 7 phiếu chống, công nhận Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại được chính thức là thành viên của tổ chức Văn Bút Thế Giới trong Đại Hội VBQT vào tháng 7 năm 1979 tại Rio De Janeiro, Brazil.

 

Không chỉ thành công trong nỗ lực vận động cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh tiếp tục đấu tranh không mệt mỏi cho các nhà văn Viêt Nam bị cầm tù trong các lao tù cộng sản với các bài viết, các buổi thuyết trình, v.v. Mặc dầu sức khoẻ sút kém trong thời gian gần đây, cô vẫn sát cánh bên phu quân tham dự các chương trình sinh hoạt trong cộng đồng.

 

Nhân dịp sinh nhật lần thứ 85 của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ có ý định phối hợp với Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại để thực hiện một quyển sách để vinh danh những đóng góp của cô trong nền văn học Việt Nam và đặc biệt cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

 

Khi biết tôi có ý định phổ nhạc một bài thơ như một món quà sinh nhật dành cho Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Nhà văn Nguyễn Quang đã rất cảm động và ông mang quyển Tập Thơ đến trao cho tôi với lời nhắn nhủ là "thơ của cô Minh Đức Hoài Trinh khó phổ nhạc lắm đó." Xem qua những bài thơ trong Tập Thơ, tôi thấy có một vài bài thơ đã được một số nhạc sĩ phổ nhạc trước đây như bài "Ai Trở Về Xứ Việt" do nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc, "Kiếp Nào Có Yêu Nhau", "Đừng Bỏ Em Một Mình" do Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, rồi đến "Em Về Giữ Lửa" do Nhạc sĩ Trần Quang Hải và Bạch Yến phổ nhạc và trình bày. Bài thơ "Hỏi Mẹ" cũng được phổ nhạc và do chính tác giả là Ca nhạc sĩ Trọng Nghĩa trình bày trước đây.  Nhạc sĩ Võ Tá Hân cũng đã phổ nhạc một số bài thơ của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh như "Ai Về Xứ Việt I", " Đợi Em Về", "Gỗ Đá", v.v…  

 

Khi đọc các bài thơ trong Tập Thơ, tôi hiểu ra lời nhắn nhủ của Nhà văn Nguyễn Quang.  Phần lớn những bài thơ trong Tập Thơ Minh Đức Hoài Trinh đều chất chứa nỗi niềm trăn trở của người con xa xứ hướng về quê hương Việt Nam thân yêu. Đong đầy trong nhiều bài thơ là những uất ức, những hờn căm, những nghẹn ngào của tác giả về cuộc chiến vừa qua.  Những nỗi đau thương, buồn tủi, căm hận, v.v. được khắc họa qua từng chữ, từng câu...Lời thơ tuôn chảy theo cảm xúc của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đôi khi như dòng thác cuồn cuộn tuôn trào, lắm lúc như tiếng nấc nghẹn ngào cho những sự mất mát, những đau thương cho thân phận quê hương với niềm đau trắc trở.  Dường như Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh làm thơ để diễn tả cảm xúc của mình, chứ không phải chú trọng chọn lọc những lời văn chương bóng bẩy để thi vị hoá những điều mình muốn nói.  Chúng ta hãy đọc một vài tâm tình của thi sĩ qua những vần thơ như sau:

 

Mình về phá tung gông cùm biên giới

Biên giới tình và biên giới kẽm gai

(Em Về Giữ Lửa)

 

Ta theo chim đến nghĩa trang Trung Việt

Cậy nắp hòm hôn từng mảnh xương yêu

(Mơ)

 

Nhưng họ tới, gót chân sắt

Họ đạp, họ chà, họ dẫm,

Thế là hết,

Ngọc ngà cháy sém...

Cây rừng úa héo

(Biết Đến Bao Giờ)

 

Ngoài tình yêu quê hương, tình mẫu tử thiêng liêng, xen kẽ trong các bài thơ trong tập thơ này là những bài thơ tình yêu đôi lứa. Tôi bắt gặp một bài thơ với một cái tựa khá lạ là "Trăng, Sao và Sương".  Chỉ với 4 câu đầu của bài thơ, thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đã vẽ lên bố cục của câu chuyện qua hình ảnh của ánh trăng chiếu qua căn phòng và mảnh vườn đơn chiếc:

 

Ánh trăng chiếu qua song

Xanh xanh xanh mầu trăng trong

Chiếu phòng ai cô độc

Chiếu vườn ai đợi mong

 

Trong bốn câu thơ tiếp, 

 

Sương khóc trong lòng đêm

Sương trĩu cành lau mềm

Sương thương trăng thui thủi

Sương nhớ mầu sao êm

 

Hình ảnh hạt sương được tác giả nhân cách hoá, làm chúng ta liên tưởng ngay đến hình ảnh của người con gái đang đau buồn than khóc cho sự ngăn cách kẻ ở người đi. Người đọc tò mò muốn biết thêm tình tiết của câu chuyện và tác giả đã tiếp tục mượn ba hình ảnh của "trăng, sao và sương" để gửi gắm những nỗi niềm tâm sự đó.  Nếu như ngày xưa, người thiếu phụ trong Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn Thị Điểm tiễn đưa chồng ra chiến trận và nương theo bóng trăng tưởng nhớ người chồng ở phương xa như qua hai câu thơ:

 

"Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi.

  Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San".

 

thì cũng với hình ảnh bóng trăng ấy, Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đã diễn tả tâm trạng của người ở lại trước buổi chia ly: 

 

Trăng ơi và sương ơi

Người ấy sắp xa rồi

Bơ vơ mình trăng lạnh

Một vì sao đang rơi

 

Người ấy sẽ ra đi

Gió ngàn tung cánh phi 

Tương tư ai đâu nữa

Trăng sáng nhiều làm chi?

 

Và hệ lụy của sự chia cách này đã được thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh khéo léo lồng vào qua hình ảnh của "trăng, sương và sao", với ánh trăng cũng dường như lu mờ đi, ánh sao không còn lung linh nữa và ngay chính những giọt sương cũng nhỏ lệ cho sự xa cách.

 

Trăng sẽ ngừng rực rỡ

Sao sẽ ngừng long lanh

Khuya nào sương nức nở

Khóc ngay vui mong manh

 

Tuy trong nỗi đau chia cách, tác giả đã viết lên niềm hy vọng trong một viễn ảnh tươi sáng về ngày đoàn tụ, với hình ảnh của "trăng, sao và sương":

 

Bao giờ ta gặp nhau

Cho trăng quên buồn đau

Cho sao bừng ánh sáng

Sương thôi mờ khóm lau

 

Là một người hiền hoà, trầm lặng nhưng mang trong lòng một ý chí cương quyết, một tinh thần lạc quan như chúng ta đã có dịp được biết qua quãng đời hoạt động của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh trong nhiều thập niên qua, chúng ta mong rằng niềm tin và ý chí lạc quan cho quê hương mà cô đã gửi gắm qua thi phẩm "Trăng, Sương và Sao" cũng như qua nhiều bài thơ khác sẽ sớm trở thành hiện thực với hình ảnh một ngày ánh trăng sao "bừng ánh sáng" trên quê hương Việt Nam không còn bóng cộng thù.  Ngày đó, những đôi tình nhân hay những cặp vợ chồng sẽ không còn gặp cảnh chia ly, kẻ ở lại trên quê hương tù đày, người đi tìm tự do hay phải bán thân vì miếng cơm manh áo trên xứ người.  Và ngày đó, những người cầm bút trên quê hương Viêt Nam được tự do nói lên tiếng nói của mình mà không sợ phải gặp cảnh đàn áp, tù đày.  

 

Xin phép mượn bốn câu thơ đầu trong bài thơ "Trăng, Sương và Sao" và sửa lại một số chữ để kính tặng Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, người đã cống hiến suốt cả cuộc đời mình cho nền văn học Việt Nam và cho tiếng nói của người cầm bút:

 

Ánh trăng chiếu qua song

Xanh xanh mầu trăng trong

Chiếu dòng thơ cương quyết

Nét bút không bẻ cong! 

 

-Cao Minh Hưng-

     9/2014

 

Ngày xưa, vào trang điện tử của chính phủ Hoa Kỳ, người ta có thể tìm thấy bản Tuyên Ngôn Độc Lập, đọc Hiến Pháp, học một đạo luật được làm ra thế nào, tìm hiểu quyền và bổn phận công dân trong một nền cộng hòa. Bây giờ, vào trang điện tử chính thức của Bạch Ốc, ngoài chuyện coi tổng thống nói gì, chê ai, chửi ai, công dân được mời chơi trò trục xuất di dân. Không phải "fake news". Cũng không phải chuyện tiếu lâm. Ngày 3 tháng Chín tuần qua, trên whitehouse.gov, Bạch Ốc khai trương một khu Arcade, gồm năm trò chơi kiểu những máy điện tử ngày xưa với lời rao ngắn gọn: "Build the wall. Deport. Fill a Trump Account." Xây tường. Trục xuất. Bỏ tiền đầy vào trương mục Trump. Một khu arcade hay một dạng sòng bài trên mạng, nơi người vào chơi không đánh cược bằng tiền, mà bằng lương tri.
Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.