PHẠM CÔNG TẮC
(1890 - 1959)
Phạm Công Tắc tự Ái Dân, hiệu Tây Sơn Đạo, quê quận Châu Thành, Long An. Song thân là ông Phạm Công Thiện và bà La Thị Đường. Ông là một vị Hộ pháp quan trọng trong việc hình thành và xây dựng phát triển đạo Cao Đài.
Năm 1896, ông học tiểu học tại tỉnh Tân An (nay tỉnh Long An). Năm 1900, ông đã rửa tội tại nhà thờ ở Tây Ninh. Sau đấy, ông theo học ở trường Chasseloup-Laubat tại Sài Gòn. Năm 1907, ông đậu bằng Thành chung (Diplôme).
Thời gian học trung học, ông có tham gia phong trào Đông Du do ông Gilbert Trần Chánh Chiếu và Dương Khắc Ninh tổ chức tại Sài Gòn. Năm 1908, được tổ chức Đông Du là Hội Minh Tân tuyển chọn và chuẩn bị qua Nhật, nhưng sau đó bị nhà cầm Pháp quyền phát hiện, ông phải bỏ học.
Do có trình độ Thành chung, ông được nhận làm cho một hãng buôn. Thời gian này, với bút danh Ái Dân ông tham gia cộng tác với các báo: Công luận, La Cloche Fêlée (Chuông rè) của Nguyễn An Ninh, Lục tĩnh Tân Văn của ông Gilbert Trần Chánh Chiếu.... Đây là những tờ báo cổ vũ tinh thần dân tộc, ông trở thành cái gai trong mắt chính quyền Pháp. Sau khi ông Gilbert Chiếu bị bắt, tờ báo đình bản, ông lại về quê. Đến năm 1910, vào làm tại Sở Thương Chánh Sài Gòn. Sau đấy, chuyển ông sang Nam Vang (Phnom Penh).
Đến năm 1926, ông làm đơn xin nghỉ việc, lo việc tu hành giữ chức Hộ Pháp. Theo Pháp chánh truyền đạo Cao Đài, Hộ Pháp là chức vụ cao nhất, vì chưởng quản Hiệp thiên đài. Đây cũng là cơ quan duy nhất được quyền thông công với các đấng thiêng liêng. Sau khi Quyền Giáo tông Thượng Trung Nhựt Lê Văn Trung mất năm 1934, nhiều chức sắc cao cấp của Tòa Thánh ly khai và thành lập những hệ phái độc lập, nhằm củng cố Hội Thánh, ông được đề cử Chưởng quản Nhị Hữu hình đài, tức kiêm nhiệm luôn quyền Giáo tông của Cửu trùng đài và Hiệp thiên đài.
Từ đó, ông xây dựng và kiện toàn các cơ quan khác của đạo Cao Đài. Ông giữ quyền Chưởng quản Nhị Hữu hình đài cho đến ngày lưu vong sang Cao Miên (Campuchia).
Khi ông là Giáo chủ đạo Cao Đài tại Toà thánh Tây Ninh được giao thiệp với chính phủ và các tôn giáo khác. Ông còn xây dựng nhiều cơ sở tại Toà thánh trong thời gian ông làm Giáo chủ, như: Trí Huệ Cung, Trí Giác Cung, chợ Long Hoa, Báo Ân Từ (Đền thờ Phật mẫu)... Từ đấy, ông đã ban hành: Luật lệ chung cho các hội: Nội luật hội Nhơn sanh; nội luật Hội thánh; trong ba Hội Lập Quyền Vạn Linh. Đặc biệt là đạo luật năm 1938, Mậu Dần, ông đề lập ra tứ trụ của hành chính tôn giáo: Hành chính, Phước thiện; Phổ tế và Tòa đạo.
Năm 1941, Pháp thấy Toà thánh Tây Ninh có liên hệ với Kỳ Ngoại hầu Cường Để (Nguyễn Phúc Hồng Dân) đang hoạt động ở Nhật. Nên Thống đốc Nam Kỳ là Pagès đã cho mật vụ đến Toà thánh Tây Ninh thám thính, sau đấy Pháp bắt ông Phạm Công Tắc và 05 chức sắc khác đày sang đảo Madagascar (Châu Phi). Đến tháng 8 năm 1945, sau khi Nhật đảo chánh Pháp, ông mới được trả tự do trở về nước.
Năm 1955, ông đã liên kết với Hoà Hảo, Bình Xuyên... thành lập “Mặt trận Thống nhất các lực lượng Quốc gia” chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm, nhưng bị thất bại trước sức tấn công quân đội của chính phủ.
Ngày 16-2-1956, lúc 03 giờ sáng, ông nương theo quốc lộ 22 sang Nam Vang (Campuchia). Ông tiếp tục hành đạo ở Nam Vang cho đến khi mất (17-05-1959). Ông để di ngôn: “Ngày nào nước nhà độc lập thống nhất hoặc thực hiện đúng theo đường lối Hòa bình Trung lập, sẽ đưa di hài về Tòa Thánh Tây Ninh”. Năm 2006, di hài ông đưa về Tây Ninh theo ý nguyện của ông.
Ông là tác giả: Phương Tu Đại Đạo, Thiên Thai Kiến Diện, Mười bài kinh Thế Đạo và một số bài thơ, bài diễn văn...
Cảm niệm: Hộ Pháp Phạm Công Tắc
Phạm Công Tắc, Giáo chủ Cao Đài!
Thánh thất sửa sang, yêu giống nòi
Tha thiết quê hương, mong độc lập
Thương đời, lo đạo, nhớ nhung hoài!
Nguyễn Lộc Yên



Lý Thuyết Văn Học Thực Hành Phê Bình