Hôm nay,  

Nhã Ca Hồi Ký - Góc Nhìn Từ Thế Hệ Thứ 2

10/15/201900:19:00(View: 11457)
Hoi Ky Nha Ca
Hình bìa hồi ký 


Khi cầm cuốn hồi ký của cô Nhã trong tay, tôi đã biết là mình sẽ không đọc như đọc truyện, hay đọc một tác phẩm văn học. Đọc để nhớ lại ngày tháng, thấy lại một quãng thời gian đã qua đi 4 thập kỷ. Tôi biết là sẽ lại thấy hình ảnh của bố mình, của gia đình mình. Sẽ nhớ lại rất nhiều nhân vật mà tôi đã từng có lần cúi đầu khoang tay chào “cô ạ, chú ạ, bác ạ…”. Những người bạn của bố Sỹ- giống như cô Nhã- khi đã trải qua những sóng gió thăng trầm nhất của cuộc đời, thì tôi vẫn còn là một cậu học sinh trung học.

Đọc hồi ký cô Nhã, người tôi nhớ đầu tiên là chú Duy Trác. Hồi chú đi tù về năm 81, chú ghé thăm bố Sỹ ngay. Kể từ đó, chú thường ghé nhà tôi đánh mạt chược, tham gia những buổi văn nghệ bỏ túi, kể cho lũ con cháu nghe chuyện ở tù. Có một lần, khi nói về tác phẩm “Đi” của bố tôi lén gởi ra xuất bản ở nước ngoài, chú Trác nói như thế này: “… thời buổi này, bên nước ngoài, khi nhắc đến Việt Nam, người ta hay viết về nỗi khổ của những người vượt biên. Có một đề tài mà chưa có mấy người để ý tới: người ở lại. Cuốn “Đi” có nói về chủ đề này. Nhưng mà bố cháu viết còn hiền quá, chưa lột tả hết những bi hùng của những người ở lại…”.

Chỉ chừng một năm sau, cả bố tôi và chú Duy Trác đều đi tù lần thứ hai, trong vụ án “Doãn Quốc Sỹ và đồng bọn”. Bố tôi bị bắt chính vì cuốn Đi, còn chú Duy Trác vì hai ca khúc do chú sáng tác trong tù: Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về, và Tiếng Hát Đêm Noel. Cùng trong vụ này còn có các văn nghệ sĩ Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý…

Tôi nhớ đến chú Duy Trác,  vì nghĩ rằng nay nếu có đọc Hồi Ký của cô Nhã, chắc chú sẽ nói rằng: viết như vậy là đã kể được chuyện của những người ở lại.

Ở lại! Ở lại Sài Gòn sau 1975. Ở lại để thấy, để nghe, để sống trên quê hương vẫn nhọc nhằn, đầy sợ hãi, lo âu dù chiến tranh đã chấm dứt. Đám thế hệ thứ hai chúng tôi- con nhà Doãn Quốc Sỹ, Duy Trác, Nhã Ca- Trần Dạ Từ… nay thỉnh thoảng vẫn gặp nhau ở bên xứ Mỹ. Chúng tôi đồng ý với nhau một điều: giai đoạn đáng nhớ nhất của cuộc đời là những ngày còn ở lại Việt Nam sau 1975. Bao nhiêu năm sống sung sướng ở xứ sở văn minh, giàu có này vẫn không có làm cho chúng tôi quên được những ngày tháng khổ cực nhất trong đời người. Có một điều lạ là ngay vào lúc đó, chúng tôi không cảm thấy là mình đang cơ cực. Hình như khi cả xã hội cùng khổ, thì sự chịu đựng trở nên dễ dàng hơn. Sau này khi kể lại chuyện xưa, chúng tôi còn có khuynh hướng dành vị trí “hồi đó gia đình tao khổ hơn gia đình mày…”. Cơ cực trăm bề là vậy, nhưng chúng tôi vẫn có những niềm vui, vẫn có nụ cười, vẫn nuôi dưỡng được tình người. Những hạnh phúc nhỏ bé vào thời điểm đó đáng giá ngàn lần so với sự đầy đủ, tiện nghi thừa thãi của ngày hôm nay.

Những người đã từng ở lại Sài Gòn sau 1975 sẽ cảm thấy mình là một phần trong hồi ký Nhã Ca. Nhà tù nhỏ, trong cái nhà tù lớn hơn. Cô Nhã là người đã từng ở trong hai lớp nhà tù. Đã có lần sau khi được trả tự do về để nuôi con, khi đối chất với cán bộ quản lý, cô Nhã nói rằng sẵn sàng trở lại nhà tù nhỏ nếu cần thiết. Bởi vì nhà tù lớn cũng đầy sợ hãi, bất công, đàn áp. Đối đầu với chế độ công an trị ở ngoài nhà tù lớn cũng không dễ dàng hơn trong nhà tù nhỏ.

Nhà tù nào khổ hơn? Tôi nhớ gia đình cô chú Dương Hùng Cường. Khi chú Cường bị bắt vào năm 1984, cô Cường là một giáo viên trường Hồng Bàng, đã tìm cách bán căn tin trong trường để đủ tiền nuôi con. Rồi sau đó chú Cường mất trong tù. Nỗi khổ chưa dừng lại. Vài năm sau, đến lượt cô Dương Hùng Cường chết vì tai nạn xe cộ. Trong ngày đám tang cô, các người con chắc đều chưa quá 18 tuổi. Đứa lớn nhất là Linh, trong đám tang mẹ hình như em không thể khóc. Chắc tại em còn đang phải hình dung ra những ngày sau này, khi không còn cả bố lẫn mẹ, chị em phải sinh sống ra sao…

Những chuyện như vậy hình như chưa ai kể, và cũng không thể kể hết…

Là thế hệ con cháu, tôi nhớ cô Nhã hay đến nhà tôi cả lúc bố tôi còn ở tù, lẫn khi ông được trả tự do lần thứ nhất năm 1980. Hình ảnh của cô là một người phụ nữ luôn luôn điềm đạm, vững chãi, luôn biết những việc phải làm để đối phó với mọi tình huống khó khăn. Có lẽ vì vậy mà cô là chỗ dựa tinh thần cho mẹ tôi, một người phụ nữ ít ra ngoài xã hội, chỉ biết chăm lo cho chồng con. Sau những lần gặp cô, nghe cô nói về tình hình quốc tế can thiệp như thế nào cho các văn nghệ sĩ ở trong tù, mẹ tôi đỡ lo hơn cho số phận của bố…

Cô kể trong hồi ký về những ngày bác Mai Thảo trốn ở nhà cô cho đến khi vượt biên thoát. Đọc thì biết là vậy. Nhưng phải ở lại Việt Nam trong giai đoạn đó thì mới hiểu hành động này nguy hiểm đến dường nào. Sự sợ hãi, nghi kị bao trùm khắp xã hội Việt Nam. Chỉ cần bị phác giác, cô có thể sẽ vào tù trở lại. Và các em sẽ ở nhà lại tiếp tục không cha, không mẹ. Biết như vậy mà cô vẫn làm. Nếu là một người phụ nữ thông thường, chắc chắn cô phải đặt sự an nguy của con mình lên trên tình bằng hữu. Nhưng cái logic này đã không xảy ra với cô Nhã Ca.

Tiếng công an gõ cửa ban đêm… Bác Mai Thảo trốn lên mái nhà… Đối phó với công an, rồi biết rằng chúng vào nhà không phải vì bác Mai Thảo, mà định bắt lầm con trai của cô Nhã vì trốn nghĩa vụ quân sự, nhưng thực ra em chưa đến tuổi… Chỉ có những người ở lại Việt Nam, mới có thể hiểu được những nỗi sợ hãi đó kinh hoàng, ám ảnh đến như thế nào. ..

Vào năm 1984, ông anh T. của tôi đang trốn nghĩa vụ quân sự. Vào rạng sáng ngày 2 tháng 5 1984- ngay sau khi cả nước vừa nghỉ 2 ngày lễ lớn là giải phóng Miền Nam và ngày QUốc Tế lao động- công an cũng đập cửa nhà tôi. Anh T. cũng trốn lên trần nhà, và nghĩ là đây là một đợt kiểm tra hộ khẩu như thường lệ. Nhưng không. Khoảng 20 tên công an, mật vụ tràn vào nhà, để bắt bố tôi đi lần thứ hai. Chúng lục tung từng góc nhà. Có lên cả trần nhà, nhưng ở một góc khác. Chỉ có phép lạ mới giải thích được tại sao chúng không bắt được anh T. Sáng hôm sau, khi công an rút đi (nhưng vẫn cài người lại theo dõi), anh T. leo ra khỏi mái nhà, nhảy sang nhà bên cạnh, rồi lấy xe đạp đi ra khỏi con ngõ như là một người hàng xóm. Một tuần sau,  anh T. vượt biên thoát. Trước khi đi, anh có chạy sang báo cho Cô Nhã biết là bố tôi bị bắt, và nhắn tin  cho mọi người ai là cô Nhã không bị bắt đợt này.

Những kinh nghiệm sinh tồn như vậy, có khi chỉ xảy ra một lần trong đời…

Là thế hệ thứ hai, lũ trẻ chúng tôi cũng chia ngọt sẻ bùi với nhau như thế hệ cha mẹ. Một trong những nguồn giúp đỡ quí báu, kịp thời đối với các gia đình văn nghệ sĩ Miền Nam trong giai đoạn khó khăn nhất là từ cô Cao Ngọc Phượng (nay là sư cô Chân Không) và Thầy Nhất Hạnh. Khi nhận được những thùng quà từ Pháp, chị T. của tôi là người đi liên lạc với những gia đình văn nghệ sĩ khác để chia sẻ sự giúp đỡ này. Đối với gia đình cô Nhã, gia đình tôi còn có phần thân tình hơn. Chị T. mỗi khi có dịp làm bánh từ bột mì “tiêu chuẩn lương thực” hàng tháng đều đem đến biếu cô. Hôm nào hơi rủng rỉnh tiền bạc, thì bánh có thêm trứng. Có một lần cô Nhã bị bệnh, chi Thanh làm bánh đến thăm. Cô ăn xong, hỏi bánh kỳ này sao ngon hơn lần trước? Chị T. cười, nói rằng bánh lần này có đến 2 trứng! Rồi mỗi khi trong thùng quà có hộp bút chì màu,  có sách tô màu, chị T. để dành cho các em cô Nhã, vì các em còn ở tuổi tiểu học.

Những câu chuyện “ở lại” như vậy, làm sao mà quên được…

Và ngày hôm nay… Thế hệ thứ hai chúng tôi vẫn có dịp gặp lại nhau ở Mỹ. Chúng tôi hay kể cho nhau nghe những chuyện vui của tháng ngày “ở lại”. S.M- cô trưởng nữ của cô Nhã- nhắc đến kỷ niệm đi “ bùm chui” (nhảy đầm chui) với anh T. Còn H.B thì nhớ những đêm họp mặt giao thừa Tây, có chị H. hát Happy New Year của ABBA, sao mà hay thế! Chúng tôi ít nhắc đến những khốn khó đã từng trải qua. Có lẽ con người sinh ra là để hướng về những điều tử tế, tốt lành. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng tôi đã quên đi những chông gai mà tuổi thơ đã phải đối mặt và vượt qua. Những ngày tháng đã được cô Nhã ghi lại trong Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng…

Hình như đêm đen đã làm cho giây phút thưởng ngoạn ánh bình mình thêm phần ấm áp…

Tôi nhớ đến giọng hát của Trần Quang Lộc, trong ca khúc “Ở Lại Để Thấy”, bài hát mà chúng tôi rất thường ngân nga trong những tháng ngày “ở lại”:

“Ở Lại để thấy người ra đi rất nhiều

Ở lại để nghe những chuyện dài kể mãi không thôi

Ở lại để thấy những nếp nhăn trên nét mặt người

Ôi nếp nhăn nào tựa vết roi?

Ở lại để viết từng trang thư rất dài

Đêm dài bủa vây tiếng còi tàu dìu dắt tương lai

Ở lại để thấy những oán than trên khắp ngục tù

Ôi tiếng hát nào tựa bóng ma

Ở lại để thấy đường đi không lối về

Ly rượu bầm môi mắt bạn bè ngày hoắm sâu thêm

Ở lại để thấy những nỗi vui không đến tình cờ

Ôi nỗi vui nào cũng âu lo…”

 

Doãn Hưng

Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
Trong chương trình phát hình kéo dài hơn 6 phút trên đài truyền hình quốc gia VTV vào tối ngày 16/08/2026, lần đầu tiên, sau gần một năm rưỡi, công chúng mới được nghe công bố công khai cái gọi là kết quả điều tra về vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội. Bản tin xác nhận người cầm lái xe ô tô lấn trái, vi phạm Luật Giao thông Đường bộ làm chết một nữ sinh và khiến người cha mang thương tích nặng chính là cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.