Hôm nay,  

200 Năm Nguyễn Du, Đọc Lại ‘Phân Kinh Thạch Đài’

1/24/202000:00:00(View: 4567)

Thi Hao Nguyen Du
Tượng Thi Hào Nguyễn Du.(nguồn http://baoninhthuan.com.vn/ )

 

Năm nay, 2020 đánh dấu 200 năm thi hào Nguyễn Du qua đời (1820-2020). Trang Từ Điển Bách Khoa www.newworldencyclopedia.org đã xếp thi hào Nguyễn Du ngang hàng với thi hào Homer của Hy Lạp và thi hào Shakespeare của Anh Quốc.

Hiện nay Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du đã được dịch sang ít nhất 20 thứ tiếng trên thế giới. Đặc biệt hầu như người Việt nào cũng đều biết đến Truyện Kiều và đều nằm lòng nhiều câu thơ trong Truyện Kiều. Học giả Phạm Quỳnh đã từng nói rằng “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn.” Điều đó đủ thấy tác phẩm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du có tầm ảnh hưởng sâu rộng cỡ nào đối với nền văn học, văn hóa và thể mệnh của dân tộc Việt Nam.

Nhân năm mới Canh Tý và đặc biệt tưởng niệm 200 năm thi hào Nguyễn Du qua đời xin đọc lại một bài thơ chữ Hán mà ông đã làm lúc đi chu du tại Trung Hoa vào khoảng những năm từ 1787 đến 1790 để chia xẻ một bài thơ mà trong đó thi hào Nguyễn Du biểu lộ không chỉ kiến thức mà cả sự chứng đắc Phật Pháp cao siêu của ông. Đó là bài “Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài” [Đài Phân Kinh của Thái Tử Lương Chiêu Minh].

Thi hào Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3 tháng 1 năm 1766. Ông mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn, tức ngày 16 tháng 9 năm 1820, hưởng dương 54 tuổi.

Theo Tiến Sĩ Phạm Trọng Chánh trong bài viết “Nguyễn Du, Từ Thái Nguyên Sang Vân Nam Cuối Năm 1787,” được đăng trên trang mạng  www.chimvie3.free.fr,  từ năm 1787 đến 1790 Nguyễn Du hết bệnh quy y thành nhà sư Chí Hiên, hành trang bên mình là quyển Kinh Kim Cương chú giải của Lê Quý Đôn. Theo gương Lý Bạch đi chu du khắp Trung Quốc, Nguyễn Du lên Trường An và xuống Hàng Châu, ban ngày di ngao du thắng cảnh, tối trú ngụ một ngôi chùa, trên đường đi tụng kinh Kim Cương làm công quả kiếm ăn. Nguyễn Du đến Trường An (sáng tác Mạn Hứng I, II, Dương Phi Cố Lý, Bùi Tấn Công Mộ, Phân Kinh Thạch Đài) đến Hàng Châu, nơi hẹn với Nguyễn Đại Lang là miếu Nhạc Phi. Nguyễn Du trú ngụ tại chùa Hổ Pháo gần đó nơi Từ Hải từng tu hành, nơi đây Nguyễn Du nghe chuyện Từ Hải và có được quyển Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du đọc say mê và quyết chí diễn ca thơ nôm. Nguyễn Du ở nơi này khá lâu nên viết 5 bài thơ (Nhạc Vũ Mục Mộ, Tượng Tần Cối I, II, Tượng Vương Thị I, II.).

Tiến Sĩ Phạm Trọng Chánh cho chúng ta biết 2 điều lý thú. Thứ nhất, Nguyễn Du đã từng đi tu làm tu sĩ Phật Giáo với Đạo Hiệu Chí Hiên tại Trung Hoa, ít nhất 3 năm và luôn luôn mang theo Kinh Kim Cương bên mình để đọc. Có lẽ vì thế, trong bài thơ “Phân Kinh Thạch Đài,” Nguyễn Du nói là ông đã đọc Kinh Kim Cương cả ngàn lần. Thứ hai, Nguyễn Du đã sáng tác bài thơ “Phân Kinh Thạch Đài” vào những năm từ 1787 đến 1790 trong chuyến lãng du của ông ở Tàu. Bài thơ này nằm trong tập “Bắc Hành Thi Tập” của Nguyễn Du.

Về bài thơ Phân Kinh Thạch Đài, Tiến Sĩ Phạm Trọng Chánh trong bài “Nguyễn Du Qua Đình Tô Tần” được đăng trên trang www.vanhoanghean.com.vn cho biết rằng Nguyễn Du viết các bài Đình Tô Tần, và Phân Kinh Thạch Đài tại cựu kinh đô Lạc Dương năm 1789-1790. Khi đi sứ Nguyễn Du có đi ngang qua tỉnh Hà Nam, qua huyện An Dương, nhưng không đến Lạc Dương. Đình Tô Tần lập ở quê hương Tô Tần là Lạc Dương.  Lạc Dương có ngôi chùa Bạch Mã là chùa đầu tiên của Trung Quốc, lập năm 65 sau công nguyên, có lẽ Phân Kinh Thạch Đài nhà Tùy nằm nơi này. Tôi có đến Trường An năm 2009  tìm Phân Kinh Thạch Đài nơi chùa Đại Hồng Nhạn và Tiểu Hồng Nhạn, nơi Trần Huyền Trang dịch kinh nhưng không ai biết.

Theo các chú giải, Thái Tử Lương Chiêu Minh là con của Vua Lương Võ Đế (502-549) thời nhà Lương trong giai đoạn Nam Bắc Triều tại Trung Hoa. Vua Lương Võ Đế, theo truyền thuyết đã từng gặp Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma (đến TQ khoảng năm 520 sau tây lịch). Thái Tử Lương Chiêu Minh được cho là người học rộng và thích nghiên cứu. Ông là tác giả cuốn sách “Văn Tuyển.”

 

梁昭明太子分經石臺

 

梁朝昭明太子分經處,

石臺猶記分經字。

臺基蕪沒雨花中,

百草驚寒盡枯死。

不見遺經在何所,

往事空傳梁太子。

太子年少溺菸文,

強作解事徒紛紛。

佛本是空不著物,

何有乎經安用分。

靈文不在言語科,

孰為金剛為法華。

色空境界茫不悟,

癡心歸佛佛生魔。

一門父子多膠蔽,

一念之中魔自至。

山陵不涌蓮花臺,

白馬朝渡長江水。

楚林禍木池殃魚,

經卷燒灰臺亦圯。

空留無益萬千言,

後世愚僧徒聒耳。

吾聞世尊在靈山,

說法渡人如恆河沙數

人了此心人自渡,

靈山只在汝心頭。

明鏡亦臺,

菩提本無樹。

我讀金剛千遍零,

其中奧旨多不明。

及到分經石臺下,

終知無字是眞經。

 

Phiên âm Hán-Việt:

 

Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài

 

Lương triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ,

Thạch đài do ký “Phân kinh” tự.

Đài cơ vu một vũ hoa trung,

Bách thảo kinh hàn tận khô tử.

Bất kiến di kinh tại hà sở?

Vãng sự không truyền Lương Thái tử.

Thái tử niên thiếu nịch ư văn,

Cưỡng tác giải sự đồ phân phân.

Phật bản thị không bất trước vật,

Hà hữu hồ kinh an dụng phân?

Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa,

Thục vi Kim Cương vi Pháp Hoa?

Sắc không cảnh giới mang bất ngộ,

Si tâm quy Phật Phật sinh ma.

Nhất môn phụ tử đa giao tế,

Nhất niệm chi trung ma tự chí.

Sơn lăng bất dũng liên hoa đài.

Bạch mã triêu độ Trường Giang thủy,

Sở lâm họa mộc trì ương ngư,

Kinh quyển thiêu hôi đài diệc dĩ.

Không lưu vô ích vạn thiên ngôn,

Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ.

Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn,

Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số.

Nhân liễu thử tâm nhân tự độ,

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.

Minh kính diệc phi đài,

Bồ Đề bản vô thụ.

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,

Kì trung áo chỉ đa bất minh

Cập đáo phân kinh thạch đài hạ,

Chung tri vô tự thị chân kinh.

 

***

 

Đài Đá Phân Kinh Của Thái Tử Lương Chiêu Minh

 

Nơi thái tử Chiêu Minh phân kinh,

Đài đá còn ghi chữ “phân kinh.”

Hoa dại trong mưa phủ nền hoang,

Trăm cây sợ lạnh mà chết khô.

Không thấy kinh xưa ở đâu cả?

Chỉ nghe huyền thoại thái tử Lương.

Thiếu thời thái tử thích văn chương,

Miễn cưỡng giải kinh cho lộn xộn.

Phật vốn là không chẳng vướng vật,

Còn có kinh gì để phân chia?

Văn thiêng không ở nơi ngôn ngữ,

Đâu là Kim Cương, là Pháp Hoa?

Cảnh giới sắc không mà chưa ngộ,

Tâm mê theo Phật Phật thành ma.

Một nhà cha con đều mù cả,

Ở trong một niệm ma tự đến.

Trong núi hoa sen không thể mọc,

Một sớm ngựa trắng vượt sông dài.

Rừng Sở cháy thiêu cá dưới ao,

Kinh đốt ra tro đài cũng sập.

Còn giữ làm chi muôn vạn lời,

Ngu tăng đời sau tụng lải nhải.

Ta nghe Thế Tôn ở Linh Sơn,

Nói pháp độ người vô số kể.

Ai rõ tâm này thì tự độ,

Linh Sơn ngay tại nơi tâm mình.

Gương sáng không có đài,

Bồ đề vốn không cây.

Ta đọc Kim Cương cả ngàn lần,

Trong chỗ uyên áo vẫn chưa hiểu.

Nay đến dưới đài đá phân kinh,

Mới biết chân kinh là vô tự.

 

Khu Lang Mo cua thi hao Nguyen Du
Khu mộ của thi hào Nguyễn Du. (nguồn https://laodong.vn/ )

         
Trong bài thơ này có câu, “Một sớm ngựa trắng vượt song dài,” là nói đến tích truyện lúc Thái Tử Tất Đạt Đa trong đêm khuya vượt thành Ca Tỳ La Vệ vào núi tu hành. Ngựa trắng là con bạch mã mà Thái Tử cỡi phóng qua dòng sông dài Anoma trong đêm Thái Tử đi tầm đạo.

          “Linh Sơn” là núi Linh Thứu, tiếng Pali là Gijjhakuta, tiếng Phạn là Gṛdhrakūṭa, dịch tiếng Anh là The Vulture Peak, tức là cái đầu của con kên kên, vì đỉnh ngọn núi này ở xa trông giống cái đầu của chim kên kên. Núi này nằm ở Thành Vương Xá (Rajagaha) ngày xưa lúc Đức Phật còn tại thế mà ngày nay là Rajgir thuộc tiểu bang Bihar của Ấn Độ. Nơi đây Đức Phật đã giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa hay gọi tắt là Kinh Pháp Hoa. Kinh này Đức Phật nói rõ tất cả chúng sinh đều có Phật tánh và có khả năng thành Phật.

          “Gương sáng không có đài/Bồ đề vốn không cây,” là hai câu thi hào Nguyễn Du trích từ bài kệ ngộ đạo của Lục Tổ Huệ Năng: “Bồ đề bổn vô thọ/Minh kính diệc phi đài/Bổn lai vô nhất vật/Hà xứ nhã trần ai,” [Bồ đề vốn không cây/Gương sang cũng không đài/Xưa nay không một vật/Bụi trần bám chỗ nào].

 “Phân Kinh Thạch Đài” là đài xây bằng đá để ghi lại dấu vết nơi đây ngày xưa Thái Tử Triều Nhà Lương là Chiêu Minh đã dùng nơi này để phân giải chú thích kinh Phật. Cho nên, trong nguyên tác chữ Hán của bài thơ, Nguyễn Du dùng chữ “cưỡng tác giải sự,” tức là cưỡng ép làm việc phân tích hay giảng giải kinh. Đây chính là trọng tâm phê phán của Nguyễn Du đối với cha con nhà họ Lương – Lương Võ Đế và Lương Chiêu Minh.

Thi hào Nguyễn Du đứng trên lập trường phá chấp của Kinh Kim Cương, hay nói cách khác là ông đã quán chiếu việc “phân kinh” của Thái Tử Chiêu Minh bằng trí tuệ liễu ngộ tánh không của các pháp mà đức Phật đã dạy trong Kinh Kim Cương. Kinh nói rằng:

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng huyễn bào ảnh

Như lộ diệc như điễn

Ưng tác như thị quán.

Đức Phật dạy rằng, “Hãy quán chiếu tất cá các pháp có tạo tác, hay pháp hữu vi, đều là không thật có như giấc mộng, như trò huyễn hóa, như bọt nước, như sương mai và như điện chớp.” Tất cả những thứ này vốn là không có, nhưng con người chấp là thật, nên bị chúng trói buộc trong vòng tử sinh khổ não.

Như thế tất cả các pháp rốt ráo đều không, kể cả kinh Phật, kể cả niết bàn. Cho nên trong Kinh Đại Bát Nhã, ngài Tu Bồ Đề nói với Trời Đế Thích đại ý rằng là nếu có pháp nào cao hơn niết bàn thì ngài cũng đều nói là Không. Vậy thì còn có pháp gì, có kinh nào để mà phân tích hay giảng giải?

Đó chính là thâm ý cốt lõi của bài thơ “Phân Kinh Thạch Đài” của thi hào Nguyễn Du. Đây cũng chính là tông chỉ của Thiền. Cho nên, từ thời Lục Tổ Huệ Năng trở xuống Thiền Tông lấy Kinh Kim Cương làm gốc. Lục Tổ Huệ Năng cũng nhờ nghe Kinh Kim Cương mà ngộ đạo. Sau đó mới đến Hoàng Mai cầu pháp với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Bởi vậy, thi hào Nguyễn Du mới hỏi:

“Phật bản thị không bất trước vật

Hà hữu hồ kinh an dụng phân?

Phật vốn là không không dính vào bất cứ pháp gì cả. Thế thì còn có kinh nào để mà đem ra phân tích giảng giải?

Sở ngộ cao thâm của thi hào Nguyễn Du đối với Thiền nằm trong câu thơ này: “Nhất niệm chi trung ma tự chí,” có nghĩa là chỉ trong một niệm thì ma tự đến.

Niệm là ý niệm, ý tưởng, mống tâm. Tâm khởi lên là niệm. Đã có một niệm khởi lên thì ắt có muôn nghìn niệm khởi theo. Điều đó không có nghĩa là tu bằng cách làm cho tâm thành gỗ đá. Khởi niệm ở đây là móng tâm, phân biệt, vướng mắc.  Nguyễn Du nói “Phật bản thị không bất trước vật.” Tâm Phật, tâm giác ngộ vốn rỗng rang vô ngại không dính mắc vào đâu cả. Tâm không dính, không mắc, không vướng vào bất cứ pháp nào, cho dù đó là pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, là pháp tục đế hay chân đế. Tâm ấy là Phật. Tâm ấy là giác ngộ.  Tâm ấy là giải thoát.

Đọc Kinh Phật là để liễu ngộ tâm Phật, tâm giác ngộ chứ không phải để dính mắc, bám víu vào chữ nghĩa để rồi bỏ mất nghĩa lý siêu việt trong Kinh. Vì vậy mà thi hào Nguyễn Du nói “Chung tri vô tự thị chân kinh.” Cuối cùng rồi mới biết “vô tự” mới đích thị là chân kinh. “Vô tự” mà Nguyễn Du nói ở đây giống như “vô niệm” của Lục Tổ, tức là không dính mắc, không cố chấp vào văn tự của kinh, chứ không phải là kinh không có chữ.

Đọc Kinh Phật để mà giác ngộ Phật tâm rỗng rang tự tại chứ không phải để phân chấp. Thi hào Nguyễn Du muốn nhắn nhủ chúng ta như thế trong bài thơ  “Phân Kinh Thạch Đài” này.

 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.