Hôm nay,  

Chuyện đời thường

20/03/202000:00:00(Xem: 4928)
2.-Chuyen-Doi-Thuong
Minh họa: Tâm Cảnh - Tranh Sơn Dầu Nguyễn Việt Hùng

Xin giới thiệu, tôi tên là Thừa. Tất nhiên, tôi không tự chọn tên cho mình. Đây là tên do ba tôi đặt. Ở đời, cái gì không cần thiết, người ta gọi là thừa. Khi đến Mỹ, buồn cảnh xất bất xang bang, chữ nghĩa cũng chán cảnh mang râu đội mũ, tôi được gọi là Thua. Từ ấy, tôi đâm ra không thích tên mình.

Khi có trí khôn hiểu ra được mọi việc, chưa kịp thắc mắc tên mình với ba tôi thì ông đã chết. Ông chết vì lỡ sinh ra làm đàn ông trong thời chiến. Chế độ ngày ấy gọi ông là tử sĩ. Người ta phát cho mẹ tôi tấm bằng Tổ Quốc Ghi Ơn. Mẹ nói, nếu nhà có tiền đút lót, ba tôi đã không phải đi lính. Và bà cứ nhất định, ba tôi chết vì nghèo. Tôi tin, ông không đơn độc, số người chết vì nghèo trên trái đất này nhiều không kể xiết.

Như bất cứ đứa trẻ nào sinh ra trong chiến tranh, ký ức tôi gắn liền với những lần chạy nạn. Quê tôi nằm ở vùng xôi đậu. Mỗi khi nghe tiếng súng hai phía bắn nhau, mẹ lại đặt tôi ngồi vào một chiếc thúng. Chiếc còn lại chứa lỉnh khỉnh bao nhiêu là thứ, từ thức ăn, gạo muối đến quần áo. Mẹ gánh tất cả mọi thứ lên vai, theo dân làng tản cư ra đồng. Hồi bé, tôi mơ lớn lên sẽ đi lính. Tôi nghĩ, nếu có súng trong tay sẽ không bị ai ăn hiếp. Lũ trẻ con chúng tôi ngày ấy thường chặt nhánh cây gòn đẽo làm súng, chia phe đánh nhau. Lúc đầu chúng tôi đánh bằng miệng, khi bất phân thắng bại mới dùng đến tay chân. Ngày nào cũng đánh nhau đến u đầu, bướu trán. Chúng tôi không hiểu tại sao lại thích đánh như thế. Mãi sau này tôi mới biết người lớn cũng thích đánh nhau. Các nhà tâm lý học đã nhầm khi bảo ý thích bạo lực, trò chơi động tay động chân là sản phẩm của kẻ vị thành niên chưa trưởng thành. Có thể chúng tôi mang gen di truyền của tổ tông, sinh ra trong một đất nước có lịch sử mấy ngàn năm chuyên đánh nhau.

Lúc Sài Gòn sắp sụp đổ, nghe tin ông Thiệu lên máy bay dông ra nước ngoài, mẹ chửi đổng: Quân khốn kiếp! Từ đó, mẹ cũng thôi bảo tôi lớn lên nhớ trả thù cha. Năm ấy tôi tròn mười tuổi. Mẹ làm bà góa, khó nhọc nuôi tôi lớn. Hồi nhỏ, mẹ chỉ học biết chữ thì ở nhà làm ruộng. Mẹ xem mọi thứ sách vở đều thiêng liêng nên khuyên tôi học. Học để thoát nghèo, mẹ nói thế. Có nhiều người cả đời chưa từng đọc hết một quyển sách, nhưng rất giàu. Mãi sau này tôi mới biết, họ giàu vì cướp của người khác, không phải vì học.   

Tôi bỏ quê ra đi lúc trưởng thành. Tôi sống ở một chỗ, gọi là thành phố, nơi con người thích chui rúc vào những dãy nhà cao tầng, với các tiện nghi sinh hoạt vây quanh. Cuộc sống nơi đô hội mê hoặc tôi cũng ngang bằng sự quyến rũ của các cô gái. Ở đó, tôi bỏ công học hỏi đủ thứ, từ cách đi đứng nói năng tới việc cầm nĩa sao cho đúng khi được mời tham dự các bữa tiệc. Tôi tập ăn bánh mì kẹp thay cơm. Như người ta, tôi thích tranh Vincent Van Gogh và cũng hỏi tại sao nàng Mona Lisa lại mỉm cười. Tôi không muốn làm bạn những cô gái cùng màu da tiếng nói với mình, chỉ thích mấy cô nàng tóc vàng. Và tôi thường thất tình triền miên. Tôi bỏ ngoài tai lời khuyên của mẹ, mặc kệ cái gọi là giữ gìn nòi giống nguồn cội. Để phủ nhận và gột rửa xuất thân quê mùa của mình, tôi nhất định con người không sinh ra từ loài khỉ. Tôi chẳng coi thuyết tiến hóa ra gì. Có lần tôi đi nghe một vị tự xưng là Phật sống, rao giảng về thế giới sau cõi chết. Bà nói tự tin đến nỗi, ai cũng tưởng bà vừa từ nơi ấy bước ra. Con người cứ thích lừa dối nhau, và cũng mãi tự dối lừa mình. Căn phòng chật cứng người. Tôi có cảm giác mọi người đang tự thôi miên mình, lòng trầm xuống như thể chuẩn bị thoát xác. Riêng tôi lại thích nhìn quanh quẩn. Những chiếc váy của các cô gái bao giờ cũng khiến tôi bận tâm hơn những đề tài có tính hàn lâm cao xa. Đã có thời tôi nhầm lẫn, cứ tưởng cái đẹp và cái thiện là một.


Mỗi sáng, mẹ nhìn tôi lo lắng. Gần đây mắt mẹ mờ dần. Mẹ bắt đầu có thói quen muốn tôi ngồi lại một bên để bà rờ mặt. Mẹ nghĩ, mỗi ngày tôi thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Biết đâu, vào một lúc nào đó, tôi sẽ không còn là con của bà nữa. Không hiểu sao càng lúc tôi càng thấy mệt mỏi, đầu óc hoang mang cứ như người đi lạc. Có lẽ, tôi đã nhiễm quá nhiều, thứ người ta thường gọi là những thói hư tật xấu mặt trái của thành thị.  

Ngày nào mẹ cũng mở tivi xem tin tức Việt Nam. Bây giờ là mùa đông. Quê mình đang vào mùa mưa. Chắc nước đã ngập hết cánh đồng làng. Cây lúa sẽ chết. Nhà nông rồi sống khổ. Nói chán, mẹ thở dài một mình. Nỗi ám ảnh về những ngày tháng cơ cực xa xưa cứ bám lấy bà. Bữa cơm nào, mẹ cũng nhắc tôi lo kiếm vợ Việt Nam. Mày không biết chọc gái à, thằng dài lưng? Hỏi tôi xong, bà lại chép miệng. Không trách được. Lũ con gái bây giờ, Tây cũng không mà Ta cũng không, người ngợm cứ nửa xanh nửa đỏ như đười ươi! Tôi vừa nghe bà, vừa nhai bánh mì. Lần nào cũng thế, mẹ chỉ có mỗi một chuyện để ca cẩm. Sao mày không chịu ăn cơm, cứ đi nhai mãi cái thứ bánh nhạt thếch ấy, hả trời! Tôi nghĩ mẹ sắp lẩn thẩn. Bà không gọi tôi bằng con nữa, chỉ kêu mày. Có lẽ tôi sống hèn. Tôi cứ mãi bận rộn theo chuyện cơm áo đời thường, cũng không dám trả các hóa đơn trễ đến một lần.

Rồi mẹ kể chuyện xưa. Một chiều, mẹ ngồi chải tóc bên thềm nhà, thấy ba tôi đi ngang qua. Ba mày ba trợn lắm. Mới biết nhau, ổng đã đòi hôn tao. Không hiểu sao, tao lại thích để cho ổng ôm như vậy. Ba tháng sau, không trầu cau cưới hỏi gì, tao bỏ nhà trốn theo ổng. Mắt mẹ long lanh sau câu nói. Các nếp nhăn trên mặt bà như giãn ra. Đột nhiên tôi thấy mẹ trẻ lại. Tôi nhìn bà, quên luôn cả nhai cơm.

Tôi ngồi, nhớ về một vùng quê xa vời, nơi có ngôi làng mái tôn lụp xụp nằm bên cạnh một đầm nước tên Ô Loan. Tôi không biết tên đầm có tự bao giờ, và do ai đặt cho. Người ta bảo, vào mùa hè đứng trên đèo Quán Cau nhìn xuống, đầm Ô Loan nằm trải mình bình lặng trông giống như đôi cánh chim loan đang thong thả bay. Tôi nghi ngờ đây là sản phẩm của mấy tay nhà thơ. Ở xứ tôi, tỉ lệ nhà thơ tính trên đầu người nhiều nhất thế giới. Mà không riêng gì cái đầm, ở đó địa danh nào cũng có tên gọi rất đẹp, chỉ có con người là cứ mãi cực khổ, nhếch nhác. Hồi ấy, tôi chỉ thích mùa mưa để được dầm mình trong nước lũ. Có năm, nước từ sông Cái và các con sông nhỏ đổ về, làm ngập trắng cả một vùng. Cả đầm nước yên bình bỗng trở nên hung dữ lạ thường. Cảnh người chết trôi, nhà cửa hư hại, mùa màng thất bát cứ xảy ra vài năm một lần. Cũng chính nơi ấy, tôi đã bỏ lại mối tình học trò của mình. Tôi không được như ba tôi, chỉ mới nắm bàn tay người ta. Nhưng rồi em cũng bỏ tôi đi lấy chồng.

Mẹ bảo khi mẹ mất phải hỏa thiêu, đem tro về rải lên mặt đầm xưa. Ruộng đất bị chính quyền lấy hết rồi, không còn chỗ để chôn. Nói xong, mẹ lắc đầu thở dài. Thật ra, từ lâu dân đen làm gì còn chỗ trên cái mảnh đất mà chúng ta thường gọi là quê hương? Một xứ sở ngày càng nhiều tượng đài và lăng tẩm, nơi chỉ dành riêng cho những kẻ có quyền, khi sống lẫn lúc chết dành nhau để được phong thánh.

Tôi không muốn giống mẹ, chỉ với ước mong được trở về bằng nhúm tro tàn rải xuống mặt đầm xưa sau khi chết. Nhưng tôi sẽ đi đâu, về đâu trên đất nước này? Ai nói cho tôi biết được. Có ai không?

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.