Hôm nay,  

Nước Mắt Nguyễn Trãi

10/04/202013:29:00(Xem: 4907)




1. Ải Nam Quan

Ngày nay ở nước ta có hai di tích lịch sử nổi tiếng bậc nhất đã mất trắng. Đó là Hòn Vọng Phu (thật), tức núi Tô Thị ở Đồng Đăng quê tôi và Ải Nam Quan, nay đổi tên thành Hữu Nghị Quan, một danh xưng sặc mùi Cộng sản.

Ải Nam Quan là ải hướng về Nam, nằm ở địa đầu tỉnh Lạng Sơn, cách Đồng Đăng quê tôi chỉ 5km. Theo sử sách ải Nam Quan do Trung Hoa dựng nên, ban đầu bằng một cánh cửa gỗ dùng làm mốc cắm để ngăn chia ranh giới hai nước Việt-Hoa. Bên phía Bắc cửa ải là huyện Bằng Tường, tỉnh Quảng Tây của Trung Hoa, còn phía Nam cửa ải là xã Đồng Đăng, huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam. 

Xưa nay đa số người Việt vẫn xem Ải Nam Quan là hình tượng đẹp nhất, một cái tên quen thuộc và thiêng liêng nhất không bao giờ phai mờ trong lịch sử nước Việt. Chính cửa ải này là nơi ngày xưa từng diễn ra biết bao biến cố đau thương lẫn oai hùng, hiển hách của dân tộc ta.

Thế mà đau lòng thay! Ngày nay Ải Nam Quan đã không còn nằm ngay trên biên giới Việt-Hoa, mà nó đã lùi sâu vào phần đất của Trung Hoa.

Nhớ lại năm 1407, quân Minh xâm lược Đại Việt ta, cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh bị bắt giải sang Kim Lăng, nước Tàu. Nguyễn Trãi khóc tiễn cha đến tận ải Nam Quan thì Nguyễn Phi Khanh khuyên ông trở về mưu đồ phục thù và rửa hận cho cha bằng con đường cứu nước.

Nói tới Nguyễn Trãi mà tiếc cho nước mắt của ông. Ngày xưa, khi tiễn cha bị đày qua Tàu nước mắt Nguyễn Trãi đã thấm ướt cửa ải nước Việt. Ngày nay Ải Nam Quan đã thuộc phần đất của Tàu, thế thì nước mắt ngày xưa của Nguyễn Trãi nay đã trở thành giọt lệ khô trên đất Tàu vậy. 


2. Đồng Đăng

Ải Nam Quan nằm ở địa đầu tỉnh Lạng Sơn. Lạng Sơn có con sông Kỳ Cùng chảy về Đồng Đăng, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Đồng Đăng, một thị trấn tuy nhỏ nhưng có nhiều chuyện khá thú vị và kỳ lạ. 

Cũng như những địa danh nổi tiếng khác trải dài suốt ba miền đất nước, Đồng Đăng quê tôi cũng đã đi vào ca dao từ bao đời:

Cái cò bay bổng bay cao

Bay qua cửa phủ bay vào Đồng Đăng

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh


3. Chợ Kỳ Lừa

Phố Kỳ Lừa có từ tiền bán thế kỷ XV nên chợ Kỳ Lừa là phiên chợ được hình thành từ lâu đời. Vì lâu đời nên chợ Kỳ Lừa trở thành một truyền thuyết, lịch sử. Đẻ của tôi nói Kỳ Lừa có nhiều truyền thuyết, nhưng tôi vẫn thích hai câu chuyện Đẻ kể dưới đây:

Tương truyền, tên gọi Kỳ Lừa bắt nguồn từ câu chuyện, ngày xưa, ở khu vực này có một con lừa rất kỳ lạ. Hàng ngày, khi được chủ thả đi ăn cỏ, con lừa tự bơi qua sông Kỳ Cùng tìm sang núi Kỳ Cấp để ăn cỏ non. Đến tối, con lừa lại tự bơi qua sông và tìm về chuồng (có người cho rằng con lừa kỳ lạ này là của Mạc Đĩnh Chi). Người dân các nơi rủ nhau đến xem con lừa kỳ lạ rất đông, từ đó cái tên Kỳ Lừa ra đời.

Tuy nhiên, có ý kiến lại cho rằng, tên gọi Kỳ Lừa bắt nguồn từ địa danh Khau Lừ, Khau là Đồi, Lừ là Lừa, Khau Lừ có nghĩa là Đồi Lừa. Bởi ở khu vực này xưa kia có những đồi cỏ lúp xúp làm bãi chăn thả lừa, ngựa nên gọi là Khau Lừ, về sau mọi người đọc chệch đi thành Kỳ Lừa. Từ đó, chợ Kỳ Lừa là nơi sinh hoạt của các dân tộc ở Lạng Sơn.

Có điều, cho dù có ý nghĩa gì và xuất phát từ đâu thì riêng cá nhân tôi, chợ Kỳ Lừa là nơi tôi đẻ rớt nên khi lớn lên gần như mọi ngõ ngách, mọi đường ngang nẻo dọc tôi đều rành rẽ. Nhưng mà cũng chính ngôi chợ này đã in đậm một nỗi buồn rướm máu trong tâm hồn Đẻ tôi. 

Số là trước ngày Bố tôi đi B, vào Nam chiến đấu, nhằm ngày giỗ ngoại, Đẻ muốn đãi Bố một bữa giỗ cầy. Dù lúc đó gia cảnh chả khấm khá gì, Đẻ lại đang mang thai tôi sắp tới ngày sinh nở, nhưng Đẻ vẫn xách giỏ ra chợ Kỳ Lừa mua miếng cầy tơ cho Bố. Không may, hôm ấy trời mưa lâm râm, đường trơn, dù cẩn thận Đẻ vẫn ngã, bất thần đẻ rớt tôi ra giữa chợ. Vì Mẹ con tôi bị tai nạn nằm nhà thương nên Bố hụt một bữa giỗ cầy. Về sau, có lần vào ngày giỗ Bố, Đẻ nói: "Tới chết Bố mầy cũng không kịp xơi một bữa giỗ cầy". Bố tôi mất năm 1962 vì bệnh sốt rét ác tính trên đường xẻ dọc Trường Sơn vào Nam. 

4. Núi Tô Thị

Ngoài phố Kỳ Lừa, Đồng Đăng còn có núi Tô Thị, tức Hòn Vọng Phu, một truyền thuyết về đá trông chồng nằm ở phía Bắc tỉnh Lạng Sơn vốn nổi tiếng trong thi ca, hội họa, âm nhạc Việt Nam. Nhiều ngưởi hỏi nước Việt ta có bao nhiều Hòn Vọng Phu. Người nói 5, người nói 7. Riêng tôi khi lớn lên đi làm thợ hồ ngược xuôi khắp chốn, tôi đã từng đi qua,  chứng kiến tận mắt bốn Hòn Vọng Phu trải dài từ miền Bắc vào miền Trung. Ngoài Hòn Vọng Phu ở Đồng Đăng quê tôi, tỉnh Bình Định, Tuy Hòa và đèo Dục Mỹ cũng có núi Tô Thị. (Miền Nam không có Hòn Vọng Phu, chỉ có Hòn Phụ Tử ở vùng biển Kiên Giang, nay chỉ còn "hòn tử" đứng trơ vơ). 

Tuy nhiên, về sau tôi không còn quan tâm nước Việt ta có bao nhiêu Hòn Vọng Phu mà đắng lòng vì di tích núi Tô Thị ở quê tôi bị hủy hoại. 

Năm 1991, tượng nàng Tô Thị bị sụp đổ vì lòng tham và vì vô văn hóa của hai người phá tượng để lấy đá nung vôi làm vật liệu xây cất. Việc làm tổn hại một "quốc thể" như thế họ cũng dám làm thì thật là tắc trách.

Để gìn giữ một di tích đã in sâu trong lòng người dân Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn đã cho dựng lại nguyên bản núi Tô Thị. Chính tôi cùng toán thợ hồ ở Lạng Sơn đã ra công sức dựng lại di tích lịch sử này. Nhưng mà dù thế nào đi chăng nữa thì cái hồn của Hòn Vọng Phu đã hoàn toàn mất đi giá trị thiên nhiên của nó.

5. Chùa Tam Thanh

Tuy tôi mang tiếng sinh ra và lớn lên ở Đồng Đăng nơi có chùa Tam Thanh, nhưng vì bị thọt chân từ lúc chào đời nên Đẻ cấm không cho tôi lai vãng đến, cho đến khi Đẻ tôi qua đời. Cuộc đời của Đẻ là một chuỗi đau thương trong đó có hai lần bị vấp ngã. Lần đầu, bụng mang dạ chửa Đẻ trợt ngã trong chợ Kỳ Lừa may còn sống sót, lần thứ hai thì mất mạng. Điều kỳ lạ là Đẻ của tôi bị ngã đầu đập mạnh xuống bậc cấp dẫn lên chùa Tam Thanh đúng vào ngày lễ hội rằm tháng Giêng hàng năm. Tôi lên chùa nhặt xác Đẻ bằng đôi chân khập khễnh và tiếng tôi ai oán tru dài. Đó là lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng tôi có mặt ở chùa Tam Thanh. 

Chùa Tam Thanh nằm trong động núi đá nên còn gọi là Động Tam Thanh. Chùa được xây dựng từ đời nhà Lê, trong chánh điện thờ tự nhiều loại hình tôn giáo như Phật A Di Đà, Thánh Mẫu, Sơn Trang… Chùa nằm lưng chừng núi trong một dẫy núi cao, có nhiều cây cối um tùm. Ngoài danh lam thắng cảnh, chùa Tam Thanh còn được biết đến qua các văn bia có giá trị về tín ngưỡng, tôn giáo, về sử liệu và văn học nghệ thuật của các văn nhân, thi sĩ lưu lại qua các thời kỳ lịch sử. 

* * *


Thưa bạn đọc.

Toàn bộ câu chuyên kể trên đều do ông Đèo Văn Rơi, quê ở Đồng Đăng, kể cho tôi nghe. Theo ý ông, tôi chỉ sắp xếp lại sử liệu, sửa đổi chút tình tiết, văn phong và câu cú để viết thành truyện Nước Mắt Nguyễn Trãi mà thôi.

Cũng cần nói thêm, ông Đèo Văn Rơi được con cháu bảo lãnh qua Canada từ năm 1990, hiện sống cùng thành phố Toronto với tôi.

Bốn thân cây rất mảnh đứng phía trên bóng phản chiếu của chính mình, ngập ngừng như những cô gái trong giá lạnh. Nàng nghĩ đến những vần gieo cho câu “như những cô gái”. Xoay vòng qua. Ngọc trai lại mới. Có thể dùng trong một bài sonnet chăng? Mẹ Eddy sống bên hồ. Buổi chiều xám và bóng loáng như mặt kính. Trong bữa tối, mọi người chỉ nhắc chuyện xưa. Eddy nhớ lại những màn sương trắng, chầm chậm trôi qua sân trường mỗi ngày lúc năm giờ, khi nhà máy hóa chất đốt rác xốp Styrofoam; nhớ lần anh gãy xương đòn mà suốt ba ngày chẳng ai tin, còn mẹ anh ngồi đầu bàn, mỉm cười, tiếp tục ăn món trái cây trộn trong ly; người anh trai ngồi đối diện, cúi gằm mặt, một người đàn ông cao gầy như cánh cửa, khép kín như cánh cửa. Anh ăn như thể còn chờ được dọn thêm món nữa. Bốn, việc vặt, con điếm, gạch dưới. Những từ ấy vui vẻ chạy ngang đầu nàng. Nàng lẩm bẩm điều gì đó, đứng dậy khỏi bàn rồi bỏ đi. Giờ đây, bên hồ, không có ai bơi. Nàng nhìn mặt nước trượt dần từ màu đá phiến sang màu đen.
Có những cái chết chỉ xảy ra một lần, nhưng cũng có những cái chết mà người ta còn phải giết thêm nhiều lần nữa, bằng những lời giải thích, những bản tường trình, cho đến khi người chứng kiến không còn dám tin vào chính mắt mình. Viên đạn chấm dứt một đời người trong khoảnh khắc, nhưng ngôn ngữ của quyền lực có thể kéo dài cái chết ấy, biến nạn nhân thành thủ phạm, biến kẻ sát nhân thành người bị đe dọa, và sau cùng, biến sự thật thành điều mà người ta được lệnh phải nghi ngờ. Từ những trang văn của Vernon Lee cuối thế kỷ XIX đến những gì đang diễn ra trên nước Mỹ hôm nay, quyền lực không chỉ tìm cách tước đoạt sinh mạng con người mà còn muốn chiếm đoạt cả quyền diễn giải sự thật.
Hãy tưởng tượng bạn có một đứa con đang ở Trung Đông, đang mặc quân phục Hoa Kỳ, tham dự cuộc chiến Iran do Tổng thống Donald Trump phát động. Mỗi sáng, bạn mở tin tức. Mỗi tối, bạn nhìn điện thoại. Bạn chờ một lời nhắn, một giọng nói, một dấu hiệu nhỏ nhoi rằng con mình vẫn còn sống. Bạn biết giữa hai lần điện thoại reo, biết bao nhiêu chuyện có thể xảy ra. Rồi một ngày, bạn nghe vị tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tuyên bố chính ông đã quyết định nới lỏng các biện pháp trừng phạt Nga, bất chấp đạo luật được Quốc Hội thông qua và chính ông đã ký ban hành. Bạn cũng biết chính quyền Vladimir Putin đang giúp Iran trong cuộc chiến chống lại những người lính Hoa Kỳ.
Nobel Văn Chương thường là giải thưởng cao quý nhất trên thế giới cho cả sự nghiệp văn chương của cho toàn bộ tác phẩm (hoặc tác phẩm tiêu biểu) đóng góp văn chương của tác giả. Mỗi năm, Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển thông báo hàng ngàn đề nghị ứng cử viên được gửi đi trên thế giới. Các đề cử tác giả phải được gửi đến Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển trước ngày 1 tháng 2, sau đó một ủy ban sẽ xem xét các đề cử kỹ lưỡng. Từ tháng 4, giới hạn số ứng cử xuống còn khoảng 20, đến mùa hè thì chỉ còn khoảng 5 tác giả nằm trong danh sách đề cử. Các tháng tiếp theo, viện sĩ của Viện bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm của những ứng cử viên cuối cùng… Giải thưởng thường công bố vào tháng 10.
Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.
Trong một tác phẩm cùng tựa đề, Nhà Văn Cung Tích Biền đã có lần từng ước muốn "Không nên có mặt". Tuy nhiên, như một định mệnh, ông vẫn sống, có mặt và phải chứng kiến đầy đủ mặn ngọt cuộc đời suốt hơn 90 năm như một chứng nhân của thời cuộc, của những thăng trầm, ly loạn của đất nước. Cuộc chiến Việt Nam từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp cho tới khi đất nước thống nhất mất 30 năm, thế mà ông văn nghiệp của ông đã kéo dài tới 65 năm. Có thể nói, ông là một nhà văn viết lâu, viết khoẻ và cũng là một chứng nhân giữa cuộc phong ba, khắc nghiệt của nước nhà. Bất kể bạn đồng ý hay không với những gì ông viết, bạn cứ đọc ông bạn sẽ hiểu rõ thân phận lạc loài của con người đứng giữa lằn ranh cuộc chiến. Bao nhiêu người bị chi phối trực hay gián tiếp trong cuộc tranh chấp máu lửa tương tàn, bị cắt đứt gốc rễ với quá khứ, không tìm thấy mục đích ở hiện tại và mơ hồ trước tương lai.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau? Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.