Hôm nay,  

Thơ Về Với Cõi Thủy Chung

25/05/202010:55:00(Xem: 4942)

To Thuy Yen2020


nhớ nhà thơ Tô Thùy Yên (1938-2019)

Vừa qua, trong facebook của Hoàng Xuân Sơn và Ngy Thanh có nhắc đến ngày giỗ đầu của nhà thơ Tô Thùy Yên. Mới đó mà đã một năm rồi. 

Nhớ có lần viết một bài về hoa anh đào tôi có nhắc đến thi sĩ Tô Thùy Yên, hôm sau được tin ông mất. Có lẽ trước khi ra đi ông gợi cho bạn bè nhớ về ông không chừng. Người ta nói cái đó là linh cảm hay thần giao cách cảm chi đó.

Thật ra tôi có hai lần nhắc đến Tô Thùy Yên trong hai bài viết của tôi. Một bài về con dế và một bài về bông hoa. Con dế gáy và bông hoa nở, cả hai như người, hết lòng mừng thi sĩ đi tù về.

Con dế vẫn là con dế ấy

Hát rong bờ cỏ giọng thân quen

Và:

Cảm ơn hoa đã vì ta nở

Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

Ta Về, với bốn câu thơ dẫn chứng trên trong 127 câu, đều nói lên lòng nhân bản nhưng tràn trề dòng nước mắt khô.  

Nỗi đời của thi sĩ Tô Thùy Yên có ba lần đi tù, cộng lại là 13 năm. Không có gì hạnh phúc cho bằng sau 13 năm sống chết trong ngục tù Cộng sản lại được thả cho về. Mỗi lần về ông đều về với dòng nước mắt khô. Ông về gặp lại gia đình, bạn bè, anh em. Ông về với thế giới thi ca của ông để gặp lại cái Ta từ tốn, đôn hậu, là bản thể sống thực của một người nghệ sĩ đi tù về.

Tô Thùy Yên là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam, dù vậy điều đó không có nghĩa là được nhiều nhạc sĩ ưu ái phổ nhạc. Cho đến nay tôi được biết thơ ông được hai nhạc sĩ phổ nhạc, bài nào cũng hay, cũng gợi cho người nghe nhiều xúc cảm. 

Chiều Trên Phá Tam Giang, nhạc Trần Thiện Thanh là một bản tình ca trong thời binh lửa làm rung động bao trái tim người nữ kể cả những người lính Cộng Hòa, và bài Ta Về, nhạc của Đình Đại được tác giả hát lên như một tiếng thở dài.

Trong thế giới thi ca Việt Nam, thơ Tô Thúy Yên nở rộ như loài hoa quý, thênh thang, cao rộng, ngạo nghễ, vang xa và siêu thoát. Nhất là vết thương ngục tù không làm ông nhức nhối, nó không làm ông mệt mõi, chết mòn vì ám ảnh, sầu đau, ngược lại, với tấm lòng rộng mở, không thù hằn, oán hận, ông trở về tiếp tục làm thơ dể tiếp nối hơi thơ của ông từ ngày trước, từ kiếp trước.   

Người tù Tô Thùy Yên trở về đối diện với thực tế phức tạp, nhìn vào cuộc đời nhiễu nhương để vượt lên, thoát mình vào chỗ đứng ngày xưa. Ở đó ông đào sới trong kỷ niệm lòng yêu thương, niềm tin tưởng là những chất liệu cần thiết để ông vẽ lại tiền thân ông bằng điệu thơ.  

Tiền thân của thi sĩ không phải là kiếp xưa, ông không nghiêng về quá khứ khắc khoải, bi thương, giận dỗi. Tình thương, hồi ức, đam mê, hệ lụy là những hình trạng thi sĩ vẽ nên bằng những cung bậc thâm trầm nhưng nhịp nhàng uyển chuyển đã biến ông thành một biểu tượng thi ca sống động, trên bước đường về. 


Tô Thùy Yên về với chút tình tự làm mới văn chương chữ nghĩa qua bài thơ Ta Về. Một dòng thơ đời đời thao thức với tình yêu, quê hương và thân phận làm người trong hay ngoài đất nước. 

Tuy nhiên, với tôi, Ta Về là một bản trường ca. Bài hát có những âm điệu ru hời đã không ngừng làm thổn thức biết bao tấm lòng yêu chuộng thi ca qua từng thời gian. Cứ thế người ta đọc lên, hát lên với niềm kính trọng và thương tiếc một tái năng đã vĩnh viễn ra đi. 

Lần trước thi sĩ Tô Thùy Yên từ ngục tù trở về, thi sĩ về để sống với thi ca. Lần này Tô Thùy Yên cũng về, về thật, vĩnh viễn về luôn, và cho dù thi sĩ không về với lòng đất Mẹ, nhưng ông và cõi thơ ông vẫn về với cõi thủy chung.

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.