Hôm nay,  

Trùng Dương và Cuộc Chơi Đã Kết Thúc

29/05/202000:00:00(Xem: 4511)

 

TRUNG DUONG
Nhà văn Trùng Dương 

 

Trùng Dương

Tên khai sinh là Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1944 tại Sơn Tây, Bắc Việt. Năm 1954 bà di cư vào Nam và sống ở Sài Gòn. Bà từng học Đại học Kiến Trúc và bắt đầu viết văn từ năm 1965. Các sáng tác ký tên Trùng Dương đăng trên các tạp chí Bách Khoa, Văn, Vấn Đề, Đời… Ngoài ra bà còn tham gia các lãnh vực phát thanh, truyền hình, điện ảnh và là chủ nhiệm kiêm chủ bút Nhật báo Sóng Thần (Sàigòn, 1971-1975).

Trùng Dương đã xuất bản 6 tập truyện ngắn và 4 truyện dịch. Bà cũng có 2 truyện dài từng đăng nhiều kỳ trên Nhật báo Sóng Thần nhưng chưa in thành sách.

Năm 1975 bà đi tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ. Nơi đây, bà đi học lại và tốt nghiệp Cử nhân và Cao học ngành Báo chí, Công quyền và các Vấn đề Quốc tế. Từ 1991-1993, bà làm phóng viên cho tờ The Mountain Democrat, Placerville, California; sau đó cộng tác với nhật báo The Record, Stockton, California, rồi làm Copy Editor và Trưởng ban Thư viện Tin tức từ 1993 cho tới khi về hưu vào năm 2006. Ở hải ngoại, bà viết khá nhiều thể loại đăng trên báo giấy và báo mạng.

Kính mời quý độc giả đọc lại một truyện ngắn của Trùng Dương đã đăng trên tạp chí Thời Tập số Xuân Ất Mão (1975) mà theo tác giả: “Đây là một truyện ngắn mà tôi ưng ý nhất. Với tôi, đây là một thứ tiên đoán cuộc ‘đổi đời’ của chính mình nói riêng và Miền Nam nói chung.”

 

Cuộc Chơi Đã Kết Thúc

 

Cuộc hội thảo chấm dứt bằng quyết định đình công tập thể một ngày của toàn thể công nhân giới xe đò để phản đối giới chủ nhân vì nhu cầu cạnh tranh đã hạ thù lao anh chị em công nhân xuống tới một mức mà họ không thể tiếp tục “một mức sống tối thiểu cho gia đình.” Một bản thông cáo chung được soạn thảo tại chỗ và đọc cho mấy phóng viên vài đứa bọn tôi ghi chép. Giữa tình hình chính trị chiến sự sống động như thế này, quyết định đình công của họ quả thất lợi vì khó gây được tiếng vang.

Giấy mời dự cuộc hội thảo được gửi tới tòa soạn chằng có ma nào muốn đi. Cuối cùng anh tổng thư ký gọi tôi tới và bảo đi, vì ông chủ nhiệm không muốn giới công nhân xe đò phật lòng dù họ biết ông vốn quen với giới chủ nhân. Theo ông chủ nhiệm thì chính giới công nhân mới là những người đem tờ báo tới quần chúng, chỉ thị của chủ nhân dù sao cũng chỉ được thi hành một cách tắc trách nếu chúng ta không lấy được lòng giới thừa hành. Được rời khỏi không khí bận rộn với những tin chính trị, chiến sự bi quan và ngó mắt vào một góc cạnh nào đó của đời sống xã hội, thảm hại này lại có vẻ là một phút giải trí cho một đầu óc căng thẳng. Hơn thế nữa, quả thực là tôi đã chán ngấy với những tuyên bố, tuyên ngôn nọ kia của phe này, nhóm nọ, như đã chán ngấy cái cửa hàng bán hoa giả của bà chị mà ngày ngày tôi phải chui ra chui vô và thỉnh thoảng bị trưng dụng đứng bán (dù vậy chớ bà chị tôi phải nhìn nhận là tôi có khiếu bán hàng, khuyên tôi bỏ nghề báo hoài để theo phụ với bả, và tôi đã cho bả biết là để tôi lâu lâu làm diễn viên tài tử cho bà thì còn hay chớ làm thực thụ thì có ngày bả sập tiệm).

Khi tôi tới phòng hội, việc đầu tiên khi gặp anh bạn đồng nghiệp Hồ Vân người nhỏ thó đầu hói mà tôi rất thích anh ta ở tính tình ngay thẳng, là tôi nói với anh ta cho tôi xin một bản các-bon bài viết của anh ta và được anh ta gật đầu liền. Việc đó là thường giữa tụi tôi bởi tôi vẫn thường giúp anh ta như vậy mỗi khi anh ta kẹt đào không đi săn tin được. Bỗng dưng tôi không thích ghi chép gì cả mà chỉ muốn ngồi lơ mơ ngắm những khuôn mặt xạm nắng với những góc cạnh thật bắt mắt, và hồi tưởng độ nào đi học dự thính ở trường vẽ sau khi thi hoài mà chẳng bắt lấy nổi cái tú tài I để tiếp tục con đường cử nghiệp của minh, lại cũng chẳng đậu được vào trường vẽ để được quyền học lấy một cái nhất định cho xong. Bây giờ người ta đã bỏ thi tú tài I nhưng tôi thì quá lười biếng để tiếp tục. Cao không tới, thấp không thông về cả mọi phương diện, tôi như một kẻ dở dở ương ương khiến gia đình rất lấy làm phiền. Không phải là tôi ế muộn gì, vì bằng cớ là cũng có vài đám tới coi mắt tôi, nhưng tính tôi lại bộc tuệch hay bốp chát nên ai cũng chỉ tới có lần coi mắt… rồi thôi. Tôi chơi với rất nhiều bạn trai nhưng vì họ thích chơi với tôi như bạn nên cuối cùng họ… lấy người khác làm vợ, và tôi thấy sự đó thường quá rồi nên cũng thành quen. Bà chị tôi nói là tôi có cái gì đó không ổn trong người. Bà chị tôi nói tại tôi bị “tẩu hỏa nhập ma” vì có một dạo tôi theo một người bạn luyện tập theo môn phái Pháp Hoa khi viết bài phóng sự về những người theo môn phái này. Cái đó thì tôi biết bả lầm lớn khi mỗi bữa cơm tôi đều đem chuyện Pháp Hoa ra kể và lâu lâu bả để moi tiền bằng cách giả bộ như nói chuyện với những người ở âm thế. Riêng tôi, tôi khoái với trò chơi làm-người-khách-lạ kiểu Camus trong cuộc sống. Và trong thâm tâm thì tại tôi… lười, lười đủ thứ, lười cả yêu đương, cả chồng con. Tôi vốn tuổi Mèo và tôi cũng thích giống mèo lắm, coi nó như một nhà hiền triết. Ở phòng ngủ của tôi, tôi có treo một tấm hình con mèo ngồi lơ mơ trên một bức tường đổ lỗ chỗ những vết đạn vào một buổi trưa, tấm hình được phóng lớn do một nhiếp ảnh viên ngoại quốc chụp và tặng tôi. (Hồi đó nếu tôi không lười viết thơ cho anh ta, nếu tôi không lười lo giấy tờ xuất ngoại thì tôi đã là vợ anh ta rồi. Bà chị tôi nhắc hoài về chuyện đó, cho rằng tôi đã bỏ lỡ một cơ hội tốt vì bà cho rằng đàn bà Việt lấy chồng ngoại quốc là tiên.)

Bởi lười cho nên tôi chẳng bao giờ tranh chấp với ai. Dĩ nhiên tôi muốn nói lười đây là “lười có giới hạn.” Vẫn có cái làm tôi thích, chẳng hạn như viết báo. Như Hồ Vân, tôi làm tròn bổn phận sự được giao phó, chẳng bao giờ làm thừa để được tiếng hoặc hạ người khác hầu tiến thân. Do lẽ đó mà mỗi lần toà báo chỗ tôi làm việc họp để thu hẹp nhân viên, tôi thường được giữ lại. Tôi cũng còn biết rằng tôi được giữ lại vì tôi chỉ làm cho có tờ báo đó, thay vì như đa số bạn đồng nghiệp của tôi quen thói “đi khách” nhiều báo. Bởi vì tôi không có nhu cầu vật chất nhiều, tôi chẳng có ai để phải cưu mang. Và lâu lâu cần moi tiền bà chị (cửa hàng hoa giả của bà phát đạt dễ sợ) bằng ngón nghề “nói chuyện với ma” vì thích hơn là vì cần tiền – hai con ma mà tôi ưa “nói chuyện” với nhiều nhất là mẹ tôi với ông anh rể chết trong trận Hà Lào 70.

Chỉ có ba tôi là có vẻ như hiểu tôi nhất, nhưng ông chỉ hiểu tôi khi nào tỉnh rượu thôi, mà ông thì uống rượu và say liên miên tới độ bị lở dạ dày. Ông ấy tuổi Chuột. Chuột dĩ nhiên phải hiểu mèo.

***

Mấy bữa rày gần cuối năm, cửa hàng hoa giả của chị tôi khách khứa đông nghẹt. Người ta đi mua hoa về trưng bày Tết. Đó là lý do chị tôi không thể đóng cửa hàng để vô nhà thương lo cho ba tôi. Đó là lý do mà tôi phải tạm thời hy sinh sự nghiệp báo chí của mình để ở nhà trông nom cửa tiệm cho chị tôi.

Buổi tối hôm thứ Hai sau hôm giao cửa hàng cho tôi, bà chị tôi sau khi ở nhà thương về cho biết ba tôi sẽ phải mổ để cắt đi nửa cái dạ dày (vị chi là ba phần tư cái dạ dày cả thẩy của ông vì đây là lần mổ thứ hai), rồi bà kêu tôi mang sổ sách cho bả coi và bà phát kêu trời sau khi xem xong. Vốn chịu đựng đã quen nên bà chị tôi có một cái đức tính thật hay là nói ít. Bà kêu trời xong, ngó lên khuôn mặt tỉnh queo của tôi thì bà bèn thở dài tuyên bố:

– Thôi, mai mày vô coi cho ba.

Và là thế tôi được thoát ra khỏi không khí ngột ngạt của tiệm hàng hoa giả của bà chị mặc dù thực tâm tôi không tính hại bà chị đáng kính của mình một mảy may. Chẳng qua tôi là chân chạy, bây giờ mà giam tôi vào một chỗ, giữa những đống giỏ, những chậu hoa giả thì có khác nào liệm sống tôi. Nghĩ cũng tội nghiệp cho bà chị. Nhưng không nên để lộ tình cảm xót thương người khác khi mình tự lượng không thể giúp người ta cách tích cực.

Buổi sáng khi tôi chuẩn bị tới nhà thương thăm nuôi ba tôi, tôi không quên mang theo cuốn truyện “Một Bản Tình Ca” của một nữ sĩ Nhật mà tôi đã đọc cách nay mấy năm và vẫn thích thú khi đọc lại, và một tập truyện tiếu lâm cho ba tôi. Tôi bỏ hết vào một cái giỏ và để ở bàn ăn để bà chị tôi chất thêm những gì cần chất vào đó. Khi tôi từ dưới bếp trở lên, tôi thấy chỉ còn cuốn “Một Bản Tình Ca” ở trong giỏ. Bà chị tôi đã tịch thu mất cuốn truyện tiếu lâm mà bà biết tôi có nhã ý đem vào cho ba tôi. Dĩ nhiên là tôi đòi lại. Và bà trừng mắt nhìn tôi:

– Mày định để ổng chết vì cười sao?

– Em hỏi chị chứ một người ở tuổi ba, chỉ còn có một phần tư cái dạ dày thì còn gì nữa để mà vui sống? Chị đưa lại cuốn sách cho em.

Trong khi bà chị tôi há hốc miệng nhìn tôi thì tôi mở ngăn kéo đựng tiền của bà lấy cuốn truyện bỏ lại trong giỏ. Khi tôi bước ra cửa, như sức nhớ ra chuyện gì, bà chị tôi bảo với:

– Này, Bích. Lại biểu.

Khi tôi trở lại, bà chị tôi xuống giọng dễ thương:

– Ba lúc này hơi khó tính, mày ráng chiều ổng nhưng đừng quá lố.


– Đừng quá lố là làm sao?

Mỗi lần bị tôi vặn vẹo bà chị về phương diện ngôn ngữ, bà chị tôi ít khi giữ nỗi bình tĩnh.

– Mày biết ông hay đòi rượu và ổng bị cấm uống rượu chớ?!

Tôi gật đầu nhưng nghĩ bụng khi bước ra khỏi nhà: Ba tôi năm nay đã ngoài sáu mươi tuổi, đã bị cắt mất một nửa cái dạ dày, đã mất tất cả mọi sinh thú, trừ uống rượu và đọc truyện tiếu lâm…

***

Khi ba tôi nổi khùng từ chối không chịu ký giấy cho giải phẫu mặc chị tôi và họ hàng năn nỉ khóc lóc tùm lum, chỉ có mình tôi hiểu ông, như ông vẫn hiểu tôi.

Trông ông không còn là ông nữa với thân hình gầy gò thảm sầu. Điều mà ông mong mỏi là làm sao được chết sớm sớm. Ông đuổi mọi người ra khỏi phòng, chỉ giữ lại mình tôi. Ông nén cơn đau một cách can đảm và điều này làm tôi thêm thương yêu ông, quên cả nỗi sợ phải đối phó một mình với cơn đau của ông.
 
Khi cơn địa chấn qua đi, ông nằm thở dốc, mệt nhọc nhưng cũng cố nhếch môi cười nhợt nhạt khi cảm thấy bàn tay tôi bóp mạnh tay ông như nhắc nhở ông tới sự hiện diện của tôi. Ông nghiêng mặt về phía tôi nói:

– Con thấy không… chúng nó đâu có thực tình lo cho ba. Trong thâm tâm, chúng nó mong ba chết đi cho rồi.

Tôi bóp mạnh tay ông một lần nữa.

– Này, Bích. Ba biết thế nào người ta cũng đuổi ba ra khỏi nhà thương vì ba không chịu để giải phẫu. Con hứa không đưa ba về nhà, nghe con. Ba ghét về nhà đó. Đầy những hoa giả giống như một cái nhà mồ.

Tôi lại bóp mạnh tay ông một lần nữa, tay kia vỗ nhẹ vào mu bàn tay ông như thầm thỏa thuận với đề nghị của ông mặc dù tôi cũng chẳng biết nếu không đưa ông về đó thì sẽ phải đưa ông về đâu.

Đêm về trong bệnh viện thật yên tĩnh và buồn. Cha tôi đã thiếp ngủ. Nếu có cách gì để giúp ông chóng kết thúc cơn đau, tôi cũng không từ nan… Tôi muốn nói tới việc kết thúc cuộc sống đối với một trường hợp như ông. Tôi kéo mền đắp cho ông rồi bước ra ngoài hành lang, ngó ra khoảng sân với những bóng cây tối om và đôi ba bóng trắng của những bệnh nhân dạo đêm di động lặng lẽ như những bóng ma. Ba tôi cũng thù ghét cửa hàng hoa giả của chị tôi, và càng ghét nơi ấy hơn khi thấy thiên hạ ra vô tấp nập chứng tỏ lòng ham thích đồ giả của họ; nhưng ba tôi kín đáo hơn tôi, không để lộ sự thù ghét đó ra vì ông còn phải sống nhờ vào đó. Tôi chợt nghĩ tới công việc làm ăn bỏ bê từ một tuần nay đằng tòa báo, hay đúng hơn là phó mặc cho Hồ Văn, anh bạn tốt bụng. Nếu tình trạng này kéo dài, chắc tôi sẽ bị thất nghiệp mất và một khi thất nghiệp, khéo tôi lại phải đi bán hoa giả cho chị tôi thì khổ. Tôi hơi cảm thấy bồn chồn. Dầu sau, tôi tự trấn an, cũng sắp tới ngày báo nghỉ Tết rồi.

Tôi quay trở vào phòng ba tôi. Ông đã thức, đang đọc cuốn truyện nữ văn sĩ Nhật Bản mà tôi mang theo. Tôi ngồi xuống bên giường ông:

– Ba đâu thích được loại đó mà đọc.

– Ba liếc qua xem tại sao con thích. Lâu nay ba không để ý tụi trẻ bay thích cái gì. Con vừa đi đâu về đó?

– Con ra ngoài hóng mát lúc ba ngủ.

Đôi mắt ba tôi thật sâu. Ông nắm lấy bàn tay tôi:

– Con nghĩ gì trong lúc ba ngủ?
– …
– Tết năm nay con đã hai mươi lăm rồi…
– Ba nhớ cả tuổi con?
– Nhớ chứ. Vì ba nhớ tuổi ba, tuổi Chuột. Nên ba nhớ tuổi con, tuổi Mèo. Từ đó ba suy ra. Này Bích…
– Ba?
– Ba chắc không sống lâu…
– …
 
– Ba hài lòng con không bao giờ nói cái câu thông thường như “Ba đừng nói thế,” “Ba sẽ sống lâu” v.v… như chúng nó thường nói dù biết là mình nói láo.
Nói tới đây, ông chợt nhăn mặt, mắt nhắm nghiền và lịm đi tới mấy phút, mồ hôi vã ra. Khi cái đau qua đi, ông lại cố nhếch môi cười nhợt nhạt với tôi. Thường ông không làm vậy nếu không phải là tôi ngồi trước mặt ông. Ông sẽ vật mình vật mẩy, quát tháo om sòm, hất tung đồ đạc nếu người ngồi trước mặt ông không phải là tôi. Ông giải thích cho thái độ đó là tại ông cầm tinh con chuột và tôi cầm tinh con mèo, là hai con vật cừu địch của nhau – vì là cừu địch nên không bao giờ để kẻ thù của mình thấy nhược điểm của mình. Thực ra thì tại ông thương tôi. Những người ưa nói thật lại thường rất gượng nhẹ với nhau.

– Ba muốn con yên bề gia thất trước khi ba nhắm mắt. Sao cười, bé con?

– Tại… ít khi nào con thấy ba nói những câu mà người ta thường nói.

– Tại rồi cuối cùng tao cũng chết như mọi người thì tại sao tao không được quyền nói những câu mà người ta thường nói?

Tôi yên lặng, thấm thía điều ông vừa nói. Cuối cùng tất cả cuộc sống bình thường vẫn tiếp diễn như một chuyến tầu tiếp tục trên đường sắt và bỏ lại dọc đường những kẻ nào không thể tự thích nghi được với cuộc sống. Vở kịch “Người Khách Lạ” rồi cũng phải kết thúc nếu tôi không có cái xe hơi để lái hết tốc độ và tự gây cho mình một tai nạn như Camus hay James Dean. Người khán giả duy nhất ngồi lại xem tôi “diễn kịch” là ba tôi đang chuẩn bị bỏ đi… Tôi bỗng ứa nước mắt.

– Á à… bé con cũng biết khóc hả? Vậy là ba yên tâm rồi. Thế bé con đã chọn được người nào vừa ý chưa?

Tôi nghĩ tới Hồ Vân lúc nào tới giờ chơi với tôi thật tình nhất bởi vì giữa tôi và anh ta không còn một mảy may tình ý để phải giữ gìn lên lớp lên màu với nhau. Tôi thường xoa đầu và quàng vai anh ta vì anh ta đứng thấp hơn tôi. Tôi vẫn nghĩ rằng giá mẹ tôi sinh tôi ra với một thân xác cao độ một thước năm mươi hay một thước năm mươi lăm thôi thì định mệnh của tôi đã trùng với những vì sao khác hơn là hiện mệnh của tôi với một thước sáu mươi lăm. Đàn ông Việt thường chỉ thích đàn bà nhỏ con mà tôi thì quá dềnh dàng. Tôi tuổi Mèo mà thân xác không được như con mèo để tạo cho người khác cái ước muốn ôm ấp vuốt ve. Lần đầu tiên tôi xúc động và thực sự thấy đó là mối bận tâm. Tôi nghĩ có lẽ vì sự thay đổi nơi chính ba tôi, một người cả đời gặp toàn những đổ vỡ vì đã quá thực và cái bản chất đó đã được truyền sang tôi.

– Có nhẽ muốn được xã hội chấp nhận, mình phải đôi khi biết nói dối, con à, có nghĩa là phải biết giao tế đó. Ba giờ thì… xong phần rồi. Còn con, con còn trẻ, còn có thể chuyển hướng cuộc đời. Với lại…

Một cơn đau khác lại tới, dữ dội hơn vì mặc dù cố đè nén, mồ hôi ba tôi vã ra dữ dội như người đi trong mưa rào.

Cuối cùng, ông nói như nói với chính ông qua hơi thở đứt đoạn:

– Cuộc chơi đã chấm dứt…

Và ông nhìn tôi, cái nhìn nói thật nhiều mà tôi không thể diễn tả lại. Tôi bỗng hoang mang cách khốn khổ…

***

Tôi đi tìm Hồ Vân tại tòa soạn anh làm việc. Từ một tuần lễ nay anh ta đã thế tôi, bằng cách gửi những tin gì anh săn được cho tờ báo mà anh cộng tác tới tờ báo của tôi. Gặp tôi anh ta mừng như thấy mẹ về chợ.

– Má! Trời ơi, gặp má con mừng quá. Chừng nào má đi làm lại để con được khỏe cái thân già chút đây, má?

Anh ta bỗng khựng lại khi nhìn thấy vẻ mặt phờ phạc có vẻ không sẵn sàng để nhập cuộc nói bỡn của tôi.

– Có chuyện gì không ổn hả?

Tôi kéo Hồ Vân ra quán nước.

– Tôi sắp phải nhờ anh thêm một việc nữa đây.

– Chết, chết! Gì nữa đây? Tết nhất tới nơi rồi…

– Bình tĩnh nào. Chỉ mất một buổi tối thôi và một chút son phấn hóa trang…

– Trời đất! Mặt tôi mà đánh phấn thoa son ai coi cho được?!

– Người ta nói “một chút son phấn hóa trang” là nói bóng vậy thôi. Ý người ta muốn nói là anh chỉ cần đóng kịch chút đỉnh thôi…

– Đóng kịch! Trời đất, tôi có bao giờ đóng kịch đâu?!

– Ai biểu anh đóng kịch thiệt. Người ta nói đóng kịch là kịch đời. Sao anh cứ ngắt lời không cho tôi nói hết vậy?

– Ừ thì nói hết đi.

Và tôi tuần tự trình bày đều mà tôi tính nhờ anh ta…

***

Đám tang ba tôi tổ chức vội vàng vào đúng chiều Ba mươi Tết. Ngoài những bà con thân thuộc đi đưa vội vã, bên phía bạn bè tôi chỉ có mình Hồ Vân mà dưới mắt họ là chồng tương lai của tôi. Bỗng dưng tôi thù oán ngày Tết cách đặc biệt, bởi vì tôi không thể hiểu được tại sao nó có thể ngắt thời gian ra làm hai và khiến cho ai nấy vội vã hối hả như thể ngày mai sẽ không bao giờ đến nữa.

Mọi người đã ra về và Hồ Vân tần ngần đứng cạnh tôi dường như cũng muốn chuồn nhưng không nỡ bỏ tôi một mình. Tôi bỗng cảm thấy không muốn anh ta bỏ tôi. Tôi níu tay anh ta ngồi xuống một nấm mồ cũ làm anh ta như ngồi phải đống lửa. Cuối cùng, anh ta bảo tôi:

– Thôi, về đi, má.

Tôi nói thành thực:

– Ngồi nghỉ một lát đã. Anh đâu thể bỏ tôi một mình.

– Ý! Bộ má nói thiệt hả?

– Thiệt thì sao?

– Thôi mà má. Má cho con về để còn sửa soạn Tết nhất chớ.

Tôi nhìn trừng trừng anh ta. Có lẽ cái khung cảnh nghĩa trang xung quanh đã khiến cho cái nhìn của tôi có vẻ ghê khiếp liêu trai sao đó khiến Hồ Vân có vẻ kinh hãi:

– Ê, Bích! Bà làm cái gì vậy? Coi chừng tôi nhát ma lắm à nghe. Tôi bỏ chạy đừng có trách à.

Tôi chợt phá lên cười và không thể nào ngăn lại được.

Khi tôi ngưng tiếng cười thì chỉ còn lại mình tôi trong nghĩa trang vắng vẻ. Tôi lau nước mắt đứng dậy ra về với ý nghĩ một phần đời tôi đã được chôn theo với ba tôi. Bắt đầu từ ngày mai, tôi sẽ sống với một con người khác…
 
TRÙNG DƯƠNG

Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.