Tâm Tình Mùa Đại Dịch

10/06/202015:15:00(Xem: 4512)

Xin trân trọng giới thiệu với quí vị độc giả yêu thơ của Việt Báo một bài tám chữ

 của nhà thơ Duy Nhân.  Đào Như-Chicago June-9-2020

  

TÂM TÌNH MÙA ĐẠI DỊCH 


Một mai đây đất nước này trở lại

Đón bình minh, trong ánh sáng chan hòa,

Chúng ta cùng nối lại bản tình ca

Khi Cô Vi đã lui vào dĩ vãng.


Thơ tám chữ vẫn muôn đời lãng mạn,

Vẫn mượt mà, tươi trẻ với thời gian.

Gửi cho em, với một chút nồng nàn

Khi thế giới đang vào mùa đại dịch.


Thuở hồng hoang đất trời còn mờ mịt

Vũ trụ này sỏi đá biết tương tư

Cho đến khi thế giới có loài người

Sống thân thiện trong yên bình, thịnh trị.


Trong một phút cuồng si và mộng mị

Với mưu đồ làm bá chủ thế gian,

Nên ai kia  đã không tính kỹ càng                         

Thả virus tấn công toàn thế giới.


Năm triệu người tưởng chừng như nghẹt thở.

Mấy trăm ngàn đã vĩnh viễn ra đi.

Không tiễn đưa, phúng điếu lúc chia ly.

Người ở lại xin dâng lời cầu nguyện.


Người ra đi, đã đi rồi- vĩnh viễn

Tội cho người ở lại, giống điên khùng:

Khi gặp nhau không tay bắt mặt mừng. 

Giữ khoảng cách, nhìn nhau như xa lạ !


Sợ chưa đủ nên phải đeo mặt nạ

Che mặt  mình giống như kẻ bất minh

Nhưng thật ra chỉ để bảo vệ mình 

Và cũng giữ an toàn cho thiên hạ


Mới mười chín, CôVi  lộng hành quá !

Thế giới này dễ đổ dưới chân cô ?

Mấy trăm năm mới xây dựng cơ đồ,

Chỉ vài tháng đã trở thành sương khói ?


Cả loài người có làm chi nên tội 

Nỡ lòng nào cô nhất quyết không tha?

Từ trẻ con cho đến những người già,

Và tất cả đều cùng chung số phận.



Từ cùng đinh tới quyền cao, chức trọng

Cũng vô thường, cũng bình đẳng như nhau.

Vé đồng hạng khi lên chung chuyến tàu,

Về âm cảnh cũng như miền cực lạc.



Kiếp con người mang tấm thân lưu lạc

Sinh khác giờ sao định mệnh như nhau ?

Đức Chúa Trời và Đức Phật trên cao

Có ngó xuống cũng đành cam bất lực !



Đau thương nào mà không là bài học

Cám ơn cô đã nhắc nhở cho đời :

Kiếp con người như chiếc lá vàng rơi

Hãy cố gắng yêu thương nhiều hơn nữa !


Một mai đây đất nước mình mở cửa

Anh sẽ về thăm lại xóm làng xưa

Việt Nam ơi ! Thương biết mấy cho vừa

Đã chiến thắng nỗi kinh hoàng đại dịch.



Chicago, Tháng 5 năm 2020

Duy Nhân


blank

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ