Hôm nay,  

"Dẫu Lìa Ngó Ý Còn Vương Tơ Lòng"

09/02/202111:15:00(Xem: 4940)
Nguyen Le

Tôi không cần phải tìm kiếm một câu chuyện tình yêu hay nhất cho ngày Valentine ở nơi xa xôi nào cả. Câu chuyện ấy ở thật gần bên tôi và tôi đã được nhìn thấy mỗi ngày: ngay cả cái chết đã không bao giờ có thể chia cách mối thâm tình giữa Ông Nội và Bà Nội tôi. Kể từ sau khi ông mất, Bà vẫn thương nhớ Ông và đến bên bàn thờ tâm sự với Ông mỗi ngày.

Nội tôi không bao giờ biết Valentine là gì và cũng không hiểu tại sao đám trẻ ngày nay lại ăn mừng ngày này.

Chưa từng hoa, chưa từng quà, cũng không có những buổi hẹn hò, không quen những lời nói ngọt ngào, Ông Bà Nội tôi sống với nhau theo như đạo lý truyền thống của người Việt là “nghĩa keo sơn,”  “tình tấm mẳn” với lời nguyện ước quen thuộc “răng long đầu bạc.”

Nội tôi đến với nhau qua sự mai mối, sắp đặt, tức là không trải qua sự yêu đương lãng mạn của hầu hết giới trẻ bây giờ. Thế mà cuộc hôn nhân đó bền vững suốt hơn 60 năm. Một thuỷ, hai chung, Ông Bà Nội đã đồng hành với nhau suốt đoạn đường đời, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, cùng nhau gánh trọng trách nuôi lớn những 7 người con. 

Trong khi Ông Nội tôi bôn ba với những chuyến xe hàng khắp Nam kỳ lục tỉnh những năm bom rơi đạn lạc hoặc sau này dầm mưa dãi nắng ngoài đồng ruộng thì Bà Nội tôi một mình ở nhà vừa sớm tối chăm lo cho đàn con - chưa dứt đứa con này đã phải chăm bẵm đứa khác - lại vừa phải tảo tần hôm sớm ruộng vườn, đồng áng, lại còn buôn bán ngoài chợ đỡ dần Ông Nội tôi những năm tháng khó khăn. Tôi nhớ hồi tôi còn nhỏ Bà Nội tôi thường dậy lúc trời còn tĩnh mịch đổ trấu, nhúm lò, đổ bánh để sáng sớm mai kịp đem ra chợ bán.

Rồi cả hai đều già yếu cũng là lúc con cháu tung cánh bay xa khỏi ngôi nhà cũ. Cả ngôi nhà chỉ còn lại Ông Bà Nội tôi hủ hỉ với nhau sớm tối. 
Gần hai năm trước, Ông Nội tôi sau một cơn bạo bệnh thập tử nhất sinh xuất viện về nhà, tròn một năm trời chính Bà tôi lại một tay chăm lo cho Ông Nội cho đến ngày ông mất. Nhìn Bà Nội tôi tóc bạc, lưng còng gần như gập xuống vì sinh nở nhiều, chân đi không vững phải lần mò từng bước mà phải lo cho Ông tôi từng miếng ăn, giấc ngủ, vệ sinh, tắm giặt không nề hà chi cực nhọc, dơ bẩn tôi thấy thương cả Ông và Bà Nội tôi nhiều lắm và hết sức ngưỡng mộ tình nghĩa thủy chung của Ông Bà tôi dù cũng có những lúc hờn mát kiểu người già.

Giờ đây, Ông Nội tôi đã mất được quá 100 ngày, một mình Bà Nội tôi trong căn nhà hiu quạnh nhưng dứt khoát không chịu về ở với con cháu vì còn bàn thờ Ông Nội ở đó. Bà tôi không thể để lại bàn thờ Ông tôi lạnh lẽo không người coi sóc. Rồi mỗi bữa khi Nội ăn cơm Nội đều xới riêng ra một chén để đôi đũa lên trên để mời Ông về ăn cơm với Nội. Rồi hàng ngày Nội đều lên nhà trên lo hương khói và đốt giấy tiền cho Ông. Nhìn dáng Nội cặm cụi bên bàn thờ Ông lòng tôi không khỏi xót xa.

Nhìn thấy Ông Bà Nội tôi như vậy, tôi thường ví Ông Bà như đôi chim uyên ương mà Tây phương gọi là ‘‘lovebirds” vốn lúc nào cũng bay có nhau và khi một con ra đi con còn lại sẽ âu sầu ủ rũ cho đến chết. Tôi ráng chăm sóc cho Nội tôi sống vui vẻ những ngày Bà không còn Ông nữa nhưng trong lòng tự nhủ rằng sẽ có ngày Bà về đoàn tụ với Ông để nối tiếp tình nghĩa keo sơn giữa hai người vốn “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.” Con cháu sau này sẽ nhìn vào đó mà ngưỡng vọng và tưởng nhớ công ơn Ông Bà.

Tình nghĩa vợ chồng của Ông Bà chúng ta ngày xưa như thế thì liệu giới trẻ ngày nay dù có chăm chút cho ngày Valentine thế nào đi nữa có bao giờ sánh kịp?

Nguyễn Lễ

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.