Hôm nay,  

Đọc thơ của Thiền sư Shotetsu

12/03/202100:00:00(Xem: 3616)

PTH_Doc Tho cua Thien Su Shotetsu 01 re

Nhà sư Seigan Shōtetsu, do Sakai Hōitsu (1761-1829) vẽ, mực trên giấy.

 

Thiền sư Seigan Shōtetsu (1381-1459) là một trong vài người làm thơ nhiều nhất trong thi giới Nhật Bản. Chính xác, chúng ta không biết nhà sư đã sáng tác bao nhiêu bài thơ. Nhưng nhà sư kể lại trong một lá thư rằng vào tháng 4 của năm 1432, ngôi lều của nhà sư bốc cháy trong đêm, thiêu rụi mọi thứ trong lều và toàn bộ những bài thơ nhà sư đã sáng tác từ năm 20 tuổi, tất cả là 27,000 bài thơ trong 30 tập. Lúc đó Thiền sư 51 tuổi. Bây giờ, bộ sưu tập thơ Shōkonshū của Shotetsu còn khoảng 20,000 bài thơ.

Thơ của Shotetsu không làm theo thể haiku như đời sau. Thể thơ haiku hình thành vào thế ký thứ 17, dưới chiếc dù ảnh hưởng của các nhà thơ Matsuo Bashō (1644–1694) và Uejima Onitsura (1661–1738), định hình từ thể thơ hokku, chuyển từ thể thơ haikai hay renku. Thơ của nhà sư Seigan Shōtetsu (tên ngài có thể phiên âm là: Thanh Nham Chính Triệt) sáng tác vài thế kỷ trước đó, thường cũng là ngắn, nhưng không chính xác ở khổ 3 dòng và 17 âm như haiku. Trong ý thơ của thi sĩ Shotetsu, chúng ta đọc thấy ý đạo là hiển lộ ưu tiên. Thường không có đề cho riêng từng bài thơ, chỉ có nhan đề cho nhóm các bài thơ có nội dung gần nhau.

Như bài sau, trong nhóm bài nhan đề “Chân không là tự ngã”:

Khi tia nắng mùa thu
với mỗi ngày trôi qua
lụi tàn rõ hơn trong đời
buổi sáng rực rỡ hoa.

Bài thơ sau thuộc nhóm nhan đề “Than khóc”:

Hãy vội vã, người ơi
bất kể tông phái
nào bạn chọn
để tu học,
trong tuổi già
tim bạn sẽ kiệt lực
làm mọi nỗ lực gian nan.

Hay là bài thơ nhan đề “Nhìn lên kìa”.

Nhìn kìa
ai đó nói
chỉ tay vào
bầu trời thênh thang
với một ngón tay ---
nhưng không ai
bận tâm để nghe
và nhìn
vào mặt trăng.

.

Shotetsu sinh năm 1381 tại tỉnh Bitchu, Nhật Bản, và từ trần năm 1459 tại Kyoto. Theo nhà biên khảo Earl Miner, trong tác phẩm “An Introduction to Japanese Court Poetry” do Stanford University Press ấn hành 1968, viết nơi trang 139: “Shotetsu được một số học giả Nhật hiện nay nghĩ là nhà thơ xuất sắc nhất trong thế kỷ; khoảng 20,000 bài thơ của ông trong tuyển tập Shōkonshū, cho thấy ông cũng là một trong các nhà thơ sáng tác nhiều nhất trong truyền thống thơ cung đình.”

PTH_Doc Tho cua Thien Su Shotetsu 02 rev

Seigan Shōtetsu, do Teikoku Jinmei Jiten vẽ, năm 1629.


Shotetsu sinh trong một gia đình võ sĩ samurai bậc trung ở tỉnh Bitchū (bây giờ là Okayama), khoảng 10 năm sau theo gia đình dọn về Kyoto. Năm 15 tuổi, Shotetsu vào một ngôi chùa ở Nara và ở đây 5 năm để học, kể cả kinh điển Phật Giáo. Sau khi thân phụ từ trần năm 1400, Shotetsu trở về Kyoto, tìm một người bạn vong niên có tên là Imagawa Ryōshun (sinh: 1325/1326?; chết: 1417/1420) và yêu cầu bạn dạy cho “Đạo của Thơ” ("Way of Poetry").

Lớn tuổi hơn Shotetsu cả nửa thế kỷ, trước đó từng gặp nhiều lần, Ryoshun là võ quan về hưu, là cư sĩ Phật Giáo và là một nhà thơ nổi tiếng. Shotetsu về sau kể lại, rằng khi được 14 tuổi thì được Ryoshun dạy về thi pháp và cấu trúc thơ, được giới thiệu để tham dự các buổi họp thơ tại nhà một quan chức dân sự.

Shotetsu học về thể loại thơ cung đình với Ryoshun, và các lĩnh vực văn chương khác, kể cả truyền thống văn học Thần Đạo. Từ đó Shotetsu làm quen với nhiều nhà thơ ảnh hưởng trong thời kỳ đó. Năm 1406, Shotetsu rời bậc thầy thi ca để vào tu trong một thiền viện dòng Lâm Tế ở Kyoto có tên là Tu viện Tofuku-ji; nơi này, cũng là nơi Ryoshun từng vào tu học nhiều thập niên trước. Sau khi có tin vị thầy thơ Ryoshun từ trần (có thể là 1417 hay 1420), Shotetsu làm một số chuyến đi hành hương xa khỏi Kyoto để thăm những nơi nổi tiếng trong thơ cổ Nhật Bản. Khi về lại Kyoto, nhà sư Shotetsu toàn tâm toàn lực bước vào không gian thơ Kyoto, biến sự nghiệp đời ông thành một ngọn núi thi ca.

Năm 1424, Shotetsu rời tất cả tự viện, về dựng một ngôi lều ở ngoại ô Kyoto, sống như một nhà thơ chuyên nghiệp, được vây quanh bởi nhiều người bảo trợ và môn đệ, và thường được mời dự các buổi đọc thơ trong các gia đình quý tộc – có lúc được mời vào đọc thơ trong cung điện Tướng quân Ashikaga.
Tuy nhiên, cõi này vô thường. Chuyện xảy ra vào giữa ngày thứ nhì và thứ ba trong tháng thứ tư của năm 1432, Shotetsu kể lại: “Vào đêm thứ nhì, tôi ở lại dinh của Trưởng Quan Nội Chính, và thức dậy để nghe báo tin rằng chiếc lều của tôi, ngôi lều Imakumano, đã bốc cháy trong đêm. Không gì cứu vãn được. Toàn bộ các bài thơ tôi làm từ tuổi hai mươi, toàn bộ 27,000 bài thơ, lưu giữ trong hơn 30 thi tập, trở thành khói bụi, không một bài thơ nào còn. Cùng với tro bụi đó, là tất cả những cuốn sách, và cả những văn liệu tôi đã chép tay làm phó bản.”

Lúc đó Shotetsu 51 tuổi. Tướng quân Ashikaga Yoshimochi từ trần năm 1428, người em trai là Ashikaga Yoshinori (1394-1441) lên thế ngôi. Từ từ tình cảm nhạt dần. Các sách về cuộc đời Shotetsu kể rằng Yoshinori không có thiện cảm với nhà sư Shotetsu, và có một lúc ra lệnh đưa Shotetsu quản chế tại gia. Về tài chánh, tiền Shotetsu thừa kế từ gia tộc cũng bị tịch thu. Về văn học, tuyển tập thơ cung đình lúc đó được kết tập và biên tập bởi Asukai loại Shotetsu ra ngoài – Tuyển tập có tên Shinshokukokin Wakashū ("New Collection of Ancient and Modern Times Continued" – Tân Tuyển Thơ Cổ và Hiện Đại) có nghĩa là xóa tên nhà thơ Shotetsu ra khỏi thi ca thời trung cổ phong kiến này.

Từ đó, Shotetsu sống ẩn dật, ít tiếp xúc, sáng tác thơ cũng ít hơn. Năm 1441, sau khi Tướng quân Yoshinori bị một trong các tướng thân cận ám sát, nhà sư Shotetsu được mởi trở lại không gian văn học của các gia tộc quan chức mới. Shotetsu từng được giữ chức dạy kèm cho tân Tướng quân Ashikaga Yoshimasa (1435-1490), và được cho hưởng lại tiền thừa kế tập truyền từ người cha quá cố. Nhưng sức khỏe nhà sư Shotetsu suy yếu dần. Sau ba năm bệnh dai dẳng, Shotetsu từ trần năm 1459, hưởng thọ 79 tuổi. Học giả Steven D. Carter từng viết rằng, nếu toàn bộ thơ của Shotetsu còn ghi lại được, có lẽ hơn 31,000 bài thơ. Con số chính xác không thể nào biết được, nhưng hiển nhiên thơ Shotetsu đã đặt nền móng cho đời sau phát triển thành thể thơ haiku. Sau đây sẽ dịch một số bài thơ của Shotetsu.

Bài thơ sau gợi ý về Kinh Phật, khi nói về một con trâu, xuất hiện trong bóng đêm, từ từ bước ra, nhà thơ nhìn thấy trâu nhưng không thấy có “ai” – nói theo Mười Bước Chăn Trâu của Thiền Tông, trâu là hiển tướng của tâm, nhưng chỉ có cái được thấy là trâu (tâm) nhưng không hề có ai hay tự ngã nào thấy. Trong cái thấy của tâm này, trâu (tâm) “bước theo bước chân tôi” nhưng “không hề có ai” trước mắt. Đó là cái thấy của giải thoát, không phải Nam Tông hay Bắc Tông, không phải Thiền Tông hay Tịnh Độ, không phải Nhật, Việt, Hoa, Hàn… Đó là cái thấy “không ai” trước mắt. Bài thơ này được dịch giả Steven D. Carter xếp vào nhóm thơ yūgen ("huyền diệu và thâm sâu"):


Một gia súc, mùa xuân
Khoảng tối của đêm
một con trâu
bước ra trên cánh đồng
theo bước chân tôi
và dọc theo
đường lộ mờ sương
Tôi thấy
không một ai.
.
Một bài thơ khác của Shotetsu gợi nhớ tới Đức Phật dạy trong Kinh Kim Cang, rằng hãy giữ tâm không chỗ trụ, rằng đừng luu luyến gì quá khứ, đừng mơ tưởng gì tương lai và chớ nắm giữ gì nơi hiện tại. Bài thơ nghe như lời khuyên vì nhan đề là Tình yêu đã quên. Điều nên ghi là, trong tiểu sử của Shotetsu không thấy hình bóng phụ nữ nào. Phải chăng “tình yêu” nơi đây là “tình yêu thi ca” hay tất cả những cảm thọ trong cõi này?

Tình yêu đã quên
Tôi đã quên
trong khi cứ mãi quên
để tự nhắc mình
rằng những ai đã nguyện sẽ quên
là những người không thể quên.

PTH_Doc Tho cua Thien Su Shotetsu 04 rev

Tháp chuông chùa Nhật tại Kyoto, ảnh chụp năm 2019.


Nhà sư nơi đây tự nhận sống theo hạnh không nhà, hạnh vô gia cư, chấp nhận đón nhận tất cả những gian nan của các trận gió đời. Tuy nhiên, bài thơ sau được đặt nhan đề là “Seeking Love” (Tìm yêu thương). Phải chăng nên dịch rằng người vô gia cư này đang tìm “ngôi nhà của yêu thương, của từ bi”? Phải chăng bài này làm trong thời kỳ sống hạnh du tăng, hành hương? Bản dịch như sau.

Tìm yêu thương
Với những gian nan
thổi tới tôi
những trận gió núi
từ sâu thẳm
tận trong tim
của người không
tìm nơi cư trú nào.

Trong khi đó, hình ảnh trong bài thơ sau lại rất quen thuộc với nhà Thiền. Mặt trăng tượng trưng cho chân lý, được ngón tay chỉ lên để nhìn. Trong bầu trời rỗng không. Nhưng không ai bận tâm. Bài thơ như sau.

“Hãy nhìn lên”
có người nói thế
chỉ ngón tay vào
bầu trời rỗng không
nhưng không ai bận tâm
chịu nhìn vào mặt trăng.

Kinh Phật nói rằng có nhiều vị cổ Phật. Bài thơ sau đây của Shotetsu có nhan đề “Phật đạo” nói rằng ngay cả các ngọn núi, tất cả đều tự thân mang hình tướng vị Phật đầu tiên và Phật pháp vẫn không ngừng tuyên thuyết trên các ngọn gió bão. Bài thơ như sau.

Phật đạo
ngay cả những ngọn núi
tất cả đều tự thân
là hình tướng
của
vị Phật đầu tiên.
Và không ngừng nghỉ
giáo pháp
được tuyên thuyết
từ các trận gió bão.

Một bài thơ nói về tiếng chim cu gáy. Có thể là nhà sư Shotetsu muốn nhắc tới luật vô thường, vì nói rằng tiếng gáy qua đi, không tìm lại được. Cũng có thể nhà sư muốn nhắc hãy tỉnh thức, lắng nghe cái bên kia chữ viết, bên kia lời nói. Bài thơ như sau.

Tiếng kêu từ một chim cu
như dường nói
sự thật để thấy rằng
càng nhiều lời
càng kém giá trị
chim cu không kêu lại nữa.

Một bài thơ nhan đề “Hồi tưởng” (Reminiscing) cũng nhắc lời Kinh Phật rằng tất cả những hình ảnh của quá khứ chẳng nên nắm giữ, hãy để cho gió từ rặng thông thổi bay cho hết những giấc mơ chưa quên. Bài thơ như sau.

Hồi tưởng
Tất cả những hình ảnh này
từ một thế giới
của những xa xưa
có lợi gì đâu
Gió rừng thông ơi
hãy tới thổi tan đi
những giấc mơ chưa quên.

PTH_Doc-Tho-cua-Thien-Su-Shotetsu-03

Tháp chuông chùa Nhật tại Kyoto, ảnh chụp năm 2019.


Tương tự, một bài thơ nhà sư Shotetsu đọc trong buổi họp thơ tại nhà một quan chức cao cấp trong triều đình, được ghi là hội thơ ngày 24 tháng 8/1447. Bài thơ nói về gặp hay không gặp Đức Phật ngay nơi hiện tiền, không ở quá khứ hay tương lai.

Và những gì
hơn lúc này
tôi có từng bao giờ thở than:
rằng tôi phải sống
hiện tiền bây giờ
khi tôi có thể không gặp Phật --
không của quá khứ,
không của tương lai.

Người dân Nhật Bản thờ rất nhiều vị thần. Các ngôi đền Thần Đạo còn nhiều hơn các ngôi chùa Phật Giáo. Cả hai tôn giáo này đều đã quyện sâu vào văn hóa Nhật Bản. Tuy nhiên, Shotetsu có một bài thơ, nói rằng các vị thần chỉ là phóng ảnh từ chính chúng ta. Trong kinh luận Phật Giáo, thần có thể hiểu là cõi chư thiên. Trong Thiền Tông, với cái nhìn thấu suốt tự tánh của các pháp sẽ thấy chính là vô tự tánh, là rỗng rang Không Tánh; do vậy, các thiền sư mới nói “Phùng Phật sát Phật” (Hễ còn thấy Phật thì dẹp bỏ hình tướng Phật đó đi). Bài thơ sau, Shotetsu nói về Các Vị Thần.

Các vị thần
ngoài chúng ta
ra
không có
vị thần nào khác.
Với chính các vị thần
hãy biết rằng
chính trong tâm người
các vị thần mới được tìm thấy.

Bài thơ sau nói về những hồi chuông chùa bay trên sông, tan dần và từ từ rơi trên tay áo nhà sư, trở thành thủ đô. Lúc đó Kyoto là thủ đô Nhật Bản trong hơn 1,000 năm (từ năm 794 tới 1868). Bài thơ nhan đề “Chuông Từ Bi” (“Love—Bell”) ghi lại cảm xúc của Shotetsu. Nhà thơ dùng chữ “rơi trên tay áo” (falling onto my sleeves) chứ không phải “bay vào trong tay áo”… Nghĩa là, lúc đó, tay áo phất phơ theo từng hồi chuông bay tới. Và các hồi chuông vô hình đó trở thành thủ đô.

Chuông từ bi
Tôi lắng nghe
các hồi chuông
bay trên sông Hatsu
tan dần
từng hồi chuông một
rơi trên tay áo của tôi
trở thành
thủ đô.

Một bài thơ của Shotetsu ghi về bản thân, khi lắng nghe tịch lặng của tâm, mặt trăng trí tuệ mới hiện lên. Nhưng khi quay lại nhìn, thì thấy mây hiện lên (vì còn vướng thấy có ai nhìn). Bài thơ này Shotetsu viết tại một ngôi nhà ở Yokawa vào ngày rằm tháng 4 năm 1442, trong khi đi bộ hành hương ở Núi Hiei, phía đông bắc Kyoto.

Từ nơi tịch lặng
nơi tự tâm tôi
hiện lên
mặt trăng mọc
và khi quay lại nhìn ---
mặt trăng
trong các chùm mây.

Một bài thơ nhan đề “Qua như một giấc mơ” (“Passing Like a Dream”) làm tại ngôi chùa Myoei-ji vào năm 1457, nhà sư Shotetsu viết rằng giấc mơ trong khi ngủ sẽ tan khi thức dậy, nhưng giấc mơ trong khi thức thì cứ buộc người hoài thôi.

Những gì nhìn thấy
trong giấc ngủ
sẽ biến mất
khi thức dậy,
nhưng giấc mơ
trong khi thức
giấc ngủ sẽ không
làm quên nổi.

Nhà thơ Shotetsu ví thân như cỗ xe, khi tuổi già tới, xe ngừng lại, như muốn sụp đổ, nhưng chặng đường  từ bi của sư vẫn không ngừng. Bài thơ viết như sau.

Cỗ xe xưa cũ rồi
càng xe gần như sụp ngã
dừng lại tạm nghỉ --
hao mòn từ du hành xa
trên chặng đường từ bi.

Trong tận cùng, chúng ta có thể suy đoán rằng nhà sư Shotetsu đã mượn thơ để hoằng pháp. Nếu không làm thơ, nhà sư không thể tiếp cận với giới thượng lưu. Những bài thơ ngắn phù hợp với những buổi họp thơ thời xưa cổ, khi giấy, mực và bút còn là hiếm hoi. Thơ ngắn dễ làm người nghe ghi nhớ, khi bước về nhà. Shotetsu là mảng lịch sử hy hữu của Nhật Bản – dù là nhìn như một nhà sư, hay một nhà thơ.

Nguyên Giác

 

Hãy tưởng tượng bạn có một đứa con đang ở Trung Đông, đang mặc quân phục Hoa Kỳ, tham dự cuộc chiến Iran do Tổng thống Donald Trump phát động. Mỗi sáng, bạn mở tin tức. Mỗi tối, bạn nhìn điện thoại. Bạn chờ một lời nhắn, một giọng nói, một dấu hiệu nhỏ nhoi rằng con mình vẫn còn sống. Bạn biết giữa hai lần điện thoại reo, biết bao nhiêu chuyện có thể xảy ra. Rồi một ngày, bạn nghe vị tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tuyên bố chính ông đã quyết định nới lỏng các biện pháp trừng phạt Nga, bất chấp đạo luật được Quốc Hội thông qua và chính ông đã ký ban hành. Bạn cũng biết chính quyền Vladimir Putin đang giúp Iran trong cuộc chiến chống lại những người lính Hoa Kỳ.
Nobel Văn Chương thường là giải thưởng cao quý nhất trên thế giới cho cả sự nghiệp văn chương của cho toàn bộ tác phẩm (hoặc tác phẩm tiêu biểu) đóng góp văn chương của tác giả. Mỗi năm, Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển thông báo hàng ngàn đề nghị ứng cử viên được gửi đi trên thế giới. Các đề cử tác giả phải được gửi đến Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển trước ngày 1 tháng 2, sau đó một ủy ban sẽ xem xét các đề cử kỹ lưỡng. Từ tháng 4, giới hạn số ứng cử xuống còn khoảng 20, đến mùa hè thì chỉ còn khoảng 5 tác giả nằm trong danh sách đề cử. Các tháng tiếp theo, viện sĩ của Viện bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm của những ứng cử viên cuối cùng… Giải thưởng thường công bố vào tháng 10.
Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.
Trong một tác phẩm cùng tựa đề, Nhà Văn Cung Tích Biền đã có lần từng ước muốn "Không nên có mặt". Tuy nhiên, như một định mệnh, ông vẫn sống, có mặt và phải chứng kiến đầy đủ mặn ngọt cuộc đời suốt hơn 90 năm như một chứng nhân của thời cuộc, của những thăng trầm, ly loạn của đất nước. Cuộc chiến Việt Nam từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp cho tới khi đất nước thống nhất mất 30 năm, thế mà ông văn nghiệp của ông đã kéo dài tới 65 năm. Có thể nói, ông là một nhà văn viết lâu, viết khoẻ và cũng là một chứng nhân giữa cuộc phong ba, khắc nghiệt của nước nhà. Bất kể bạn đồng ý hay không với những gì ông viết, bạn cứ đọc ông bạn sẽ hiểu rõ thân phận lạc loài của con người đứng giữa lằn ranh cuộc chiến. Bao nhiêu người bị chi phối trực hay gián tiếp trong cuộc tranh chấp máu lửa tương tàn, bị cắt đứt gốc rễ với quá khứ, không tìm thấy mục đích ở hiện tại và mơ hồ trước tương lai.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau? Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực.
Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì đó trở ra.
Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.