Hôm nay,  

Vẫn Chừng Ấy, Vẫn Chừng Ấy Thôi...

21/03/202115:17:00(Xem: 2872)

 

                Mùa Xuân đang từng bước chậm rãi đi qua, nhưng dường như gió Xuân còn quyến luyến không gian nên hương Xuân vẫn thoảng nơi bờ cây, ngọn cỏ.

            Trên văn đàn, như cùng với gió, vẫn chuyển tải những chia sẻ của bao văn nhân, thi sỹ nên Xuân tuy chậm bước mà vẫn chưa qua. Thơ văn đón mừng Xuân   vẫn nở trên các mặt báo điện tử.

Tôi tự đãi mình, pha một ấm trà thơm rồi lần tới từng nơi …

            Mới dăm bước, gặp tựa bài: “Thơ Xuân Vĩnh Hảo”, bèn dừng lại. Mùa Xuân, đọc thơ Xuân của một thi-sĩ-Phật-tử hẳn sẽ đậm đà thiền vị trong hương trà sen.

            Mới dăm câu khai bút, khai tâm, người đọc gặp ngay bài thơ, tựa đề “ Xuân về, thăm vườn hoa em”. Đây là một bài, thể thơ tự do, và người đọc, dù mới bắt đầu đọc,  cũng phải nhận ra ngay, đây sẽ là một bài thơ dài, vì chữ nối chữ, câu nối câu, vần điệu bằng trắc, chấm phẩy, ngắt đoạn,  chia hàng …v…v… mọi luật thơ dường như tự vỡ tan trước thác lũ cảm xúc của người thi-sỹ-Phật-tử đang mượn mùa Xuân để:

            (Viết tặng những thiên thần nghèo khổ không bao giờ hưởng được mùa Xuân trên quê hương tôi) (*)


Hue TRan
Sau lời viết tặng, người đọc cảm nhận ngay bao ân cần từ một trái tim bi mẫn khi đọc tiếp:

“ Xuân về rồi, này những bé ngoan

Em đã trồng được gì nơi vườn hoa em?

Em có vườn chăng? Có hoa chăng?

Có biết xuân về, người ta nhàn hạ rảnh rỗi …..” (*)

            Và lời thơ vẽ nên cảnh xuân nơi những người dư ăn, thừa mặc, rồi lại ngậm ngùi hỏi những em bé nghèo khổ:

“ Vườn hoa em đâu, hãy mở cửa cho anh vào thăm?

Em đã trồng được gì cho năm mới này?

Hay là vẫn chừng ấy … vẫn chừng ấy như mọi ngày, như mọi năm?

Thôi, anh không hỏi về những nụ hoa xuân của em nữa

Bởi vì, vẫn chừng ấy, anh biết mà, vẫn chừng ấy thôi …” (*)

            Tôi nghe tim mình đập lạc nhịp, phải nhấp một ngụm trà, thở vào, thở ra, dăm hơi điều hoà, trước khi bước tiếp theo chân thi sỹ, thăm vườn hoa của những em bé nghèo khổ

“ Đây, vườn hoa em: núi rác khổng lồ ở ngoại ô tập trung tất cả cặn bã của thành phố đông dân nhất nước

Người phố thị dạo chơi vườn hoa xuân trăm sắc thì nơi đây em có rác rến muôn nghìn mầu

Nơi chốn phồn hoa có những khách sạn, những thương xá sang trọng với nền nhà chùi bóng sạch thơm tho, thì nơi đây, em có tất cả mùi xú uế hôi tanh của rác rưởi

Cao ốc thành phố dù là niềm hãnh diện của ai đâu cũng chẳng quan hệ gì đến em

Với em, chỉ có núi rác là quan trọng

Với em, chỉ có những xe đổ rác là quan trọng …” (*)

            Cứ thế, Thơ Xuân Vĩnh Hảo, mới chỉ một bài với những vườn hoa Xuân của bao em bé nghèo khổ mà đã trải ra đầy ắp 4 trang giấy, khổ giấy 8”rưỡi X 11” !

 

            Bình trà sen, ngỡ sẽ được hoà hương sen vào thơ xuân, nào ngờ, bình trà âm thầm lạnh ngắt vì người đọc thơ đã theo bao em bé, bước vào những bãi rác lúc nào không hay:

“ Sáng sớm tinh mơ, khi người thưởng hoa chưa thức dậy, em đã vác về một bao lớn đầy những túi ny-lon và ve chai, giép đứt, thau nhôm, mủ bế …

Giao cho ba mẹ rồi nằm lăn trên nền mộ bia nghĩa địa.

Ngủ say …” (*)

Khi em bé mệt lả, ngủ say trên nền mộ bia nghĩa địa, là lúc người đọc thơ  khoanh chân kiết già, thân tâm như đắm chìm trên những bãi rác cách xa nửa trái địa cầu đó! 

Ngồi như thế bao lâu, nào ai biết được! Chỉ là ngồi yên và cảm nhận những sợi giây vô hình đang nối kết những giọt nước mắt hôm nay với giòng lệ năm xưa,  vì cũng là bao thống hận nơi những bãi rác!

Năm xưa, sau tháng tư 1975, trên quê hương tôi, không chỉ trẻ nhỏ mà người lớn cũng lê la đầu đường xó chợ, mải mê lượm rác mong chế biến thành những gì tạm dùng được để đổi lấy chén cơm đỡ lòng!

Tin tức thời đó còn là sự biến dạng đáng lo ngại về những tỉnh lỵ đẹp đẽ, thơ mộng ngày trước, mà tôi từng có đôi lần ghé nhà người bạn cùng sở khi chị về quê thăm cha mẹ. Nhà chị ở Quận Ninh Kiều, có rạch Cái Khế uốn khúc lượn quanh, nước trong xanh, cá tôm chẳng thiếu. Nhưng sau ngày đổi chủ thì chính con rạch ấy là nơi tiếp nhận cống rãnh từ nhà cửa nườm nượp dựng lên xung quanh, qua chương trình đô-thị-hoá mà chủ mới là những kẻ có tiền và có quyền.



Dân quê bị đẩy lui dần, thành khu nhà sàn ọp ẹp ven sông và người người sống chui rúc trong những khoang thuyền, ngay nơi rạch nước cống đen ngòm, hôi hám ấy! Lũ trẻ nghèo, chẳng biết tên thật mình là gì vì chúng thường được gọi là con Na, thằng Tý, bé Ba, bé Tư … Hàng ngày, chúng chờ tan phiên chợ nghèo An Nghiệp là dắt díu nhau chui xuống gầm chợ, men theo cống rãnh lượm rau trái dập, đầu cá ươn … mang về cho các bà mẹ chế biến thành bữa tối!

Ngày lại ngày, vẫn chừng ấy, vẫn chừng ấy thôi … chúng lang thang lượm rác ở những nơi nhơ nhớp thì danh từ “trường học” hẳn là những gì chúng chẳng hề nghe, nói chi là được tới!

Hue Tran 02
Liên tưởng tới đây thì âm thanh 2 chữ “trường học” bỗng hiện lên trong tôi hình ảnh những bãi rác khổng lồ ở nước láng giềng Cam Bốt mà nỗi thống khổ chẳng khác chi nhau! Cũng đám trẻ nghèo lam lũ mà đối với chúng, xuân hay hạ, thu hay đông, chỉ có rác! Đời chúng chỉ là rác! Chỉ là rác, là rác thôi!

Cho tới ngày, một người tên Scott Neeson đến thăm bãi rác Stung Meanchey. Đó là một bãi rác sâu tới 100 yards trên diện tích tới 25 acres.

Tin này được chia sẻ trên Thư Viện Hoa Sen qua bài tường thuật của cư sỹ  Nguyên Giác.

Khi Scott Neeson được hướng dẫn viên đưa tới, theo lời yêu cầu là tới nơi nào nghèo khổ nhất ở quốc gia này, thì nhiệt độ nơi đây đang là 130 độ F ! Dù đã được chuẩn bị mọi thứ nhưng Scott  Neeson vẫn không thể tưởng tượng nổi, là có một địa ngục trần gian như vậy khi nhìn hàng trăm đứa bé ngụp lặn trong các bãi rác hôi hám, dưới nhiệt độ làm rác phân huỷ và sinh ra khí methane độc hại!

Rồi một em bé, đi ngang qua mà Neeson không thể biết là trai hay gái vì toàn thân bé phủ kín những mảnh vải rách để che nắng nóng, chỉ còn chừa hai con mắt thơ ngây.

Scott Neeson ngăn em lại, hỏi thăm gia cảnh. Qua lời thông dịch thì được biết em hiện sống cùng mẹ và em gái bị bệnh trong túp lều che bằng những tấm carton và vải nhựa thu lượm được. Mẹ và em gái cũng hàng ngày lang thang trong các bãi rác; còn cha, thì em chưa hề biết là ai, cũng chẳng bao giờ hỏi mẹ, vì với em, không gì quan trọng hơn là rác!

Chỉ nghe hoàn cảnh tiêu biểu của một em bé lượm rác, đã đủ làm vỡ trái tim Scott Neeson, một người không chỉ là triệu phú - mà đáng nói hơn - là một người nhiều quyền lực trong môi trường phim ảnh lừng danh Hollywood.

Lần thăm viếng bất ngờ này đã thay đổi toàn diện những gì mà hơn nửa đời người, Scott Neeson đã bình yên hạnh phúc với những quan niệm tương đối!

Qua một vài sắp xếp, trao đổi với người địa phương, Neeson dễ dàng tìm được một nơi tạm ổn cho ba mẹ con trú ngụ, đưa em bé đang sốt thương hàn vào bệnh viện, ghi tên đưa cô chị 9 tuổi vào trường, hứa với bà mẹ sẽ gửi tiền hàng tháng tới, đủ để 3 mẹ con không phải lượm rác nữa.

Scott Neeson đã sửng sốt nhận ra rằng, thay đổi cuộc đời cho cả 3 mẹ con khốn khổ này mà chỉ tốn chưa tới  90 phút sắp xếp liên lạc và 35 USD mỗi tháng!

Về lại Hollywood Hoa Kỳ, Scott Neeson đã không ngần ngại, bán ngay du thuyền, biệt thự và bộ xe hơi sưu tập; đồng thời buông bỏ hết tiền tài, danh vọng đang có, rồi trở lại Cam Bốt với ý nguyện gom khoảng 80 em bé trong các bãi rác để bảo trợ các em đến trường. Ngày đó, hầu hết thân nhân, bạn bè đều gọi Scott Neeson là kẻ khùng điên nhất thế kỷ!

Kẻ khùng điên đó, không phải chỉ dắt được 80 thiên thần bé nhỏ ra khỏi những địa ngục trần gian mà hiện đã có hơn hai ngàn em bé đang được đi học và nhiều em đã vào Đại Học.

 

Bình trà nguội ân cần mời gọi khi bàn chân trái lên tiếng kêu đau! Thì ra thân ngồi yên đã quá lâu chăng?

Hương trà bỗng lung linh hình ảnh bình cam-lộ-thuỷ trên tay Bồ Tát Quán Thế Âm. Ôi, mầu nhiệm thay!

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, nghe tiếng kêu thương Ngài thị hiện, rồi tuỳ  duyên nghiệp nhân gian, Ngài giang tay cứu độ.

Với đại-bi-tâm không rời bỏ những chúng sanh khẩn cầu hướng vọng, Chư Bồ Tát sẽ đủ duyên thị hiện nơi vườn hoa xuân của những em bé mà người thi-sỹ-Phật-tử vừa về thăm, để ban vui thay tiếng nấc nghẹn ngào: “Vẫn chừng ấy, vẫn chừng ấy thôi! …”

 

Huệ Trân

(Tào-Khê tịnh thất – Lệ tưới trên hoa Xuân!)

(*) “Thơ Xuân Vĩnh Hảo”           

              

Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.