Hôm nay,  

Kẻ tà đạo & Kẻ cuồng tín

19/08/202200:00:00(Xem: 4759)

 

Hinh Chinh Trang Nhat 08192022

Nhà văn Anh Salman Rushdie phát biểu khi ra mắt cuốn sách "Quichotte" tại Volkstheater ở Vienna, Áo (Ảnh của HERBERT NEUBAUER / APA / AFP qua Getty Images)



Nhà văn Anh gốc Ấn Độ Salman Rushdie, trong lúc đang chuẩn bị diễn thuyết tại học viện Chautauqua, bang New York, hôm 12/8/2022 vừa qua, đã bị một kẻ lạ xông lên sân khấu đâm nhiều nhát dao chí tử. Ông được trực thăng bốc vào bệnh viện cấp cứu, và hai hôm sau báo chí loan tin là mạng sống của ông không đến nỗi bị đe dọa nhưng chắc chắn ông sẽ mất một con mắt. Bản tin lan đi nhanh chóng khắp nơi trên thế giới như ngọn lửa bốc trên đám rạ khô.
 
 
Kẻ tà đạo
 
Sự việc trên khiến tôi nhớ lại cách đây dễ thường gần 30 năm nhà văn Salman Rushdie viết cuốn Những Vần Thơ Quỷ và Ayatollah Khomeini của xứ Iran đã làm náo động cả thế giới – nhất là nước Anh bởi ông nhà văn này mang quốc tịch Anh – khi hạ chiếu chỉ fatwa công khai cho người đi tìm ông xử tử, bởi vì, theo họ, cuốn tiểu thuyết chứa đựng những tư tưởng báng bổ đạo Hồi và Thánh Muhammad.
 
Để chứng tỏ đấy không phải lời đe dọa suông, họ cho người đánh bom khách sạn nơi ông nhà văn cư ngụ, ngay trung tâm đô thành London. Khá may, chỉ có một người thiệt mạng trong vụ đánh bom, còn ông nhà văn thì chẳng hề hấn gì. Tình hình căng thẳng đến nỗi Anh quốc và Iran cắt đứt quan hệ ngoại giao và Salman Rushdie đã phải lẩn tránh vào bóng tối.
 
Không, đừng hiểu lầm người Hồi giáo, đấy chỉ là quan điểm cuồng tín và hành động cực đoan của một thiểu số người đạo Hồi, những người diễn giải cuốn thánh kinh Qur’an dưới lăng kính thiển cận, cực đoan và sai lầm. Đa phần người ta đều nghĩ như thế. Xa hơn chút nữa, người ta xem những hành vi ấy có lẽ bắt nguồn từ sự thù ghét sâu sắc đối với thế giới Tây phương bởi quá khứ không mấy tốt đẹp từ những thế kỷ trước do chính sách thực dân áp đặt lên người Hồi giáo. Và đừng quên thời Trung cổ, các dân tộc Hồi đã từng có một nền văn minh rực rỡ và đất nước cường thịnh, lúc đó họ làm bá chủ cả một dải đất mênh mông trải dài từ Âu sang Á.  Những hình ảnh này của quá khứ vẫn rơi rớt lùa về, thổi bụi bặm nhức nhối vào tâm khảm nhiều người Hồi giáo đến tận ngày nay. Hồi giáo, cũng như tất cả các tôn giáo khác, chủ trương hòa bình, lên án bạo động cũng như bất kỳ hành vi khủng bố nào. Ai cũng biết thế và mọi người ai nấy cảm thấy yên ổn, bình tâm với lời tuyên bố chung chung, vô thưởng vô phạt, đại loại như: “Chúng tôi lên án fatwa của Khomeini, nhưng chúng tôi cũng lên án mọi hình thức tấn công vào tôn giáo bởi điều đó xúc phạm nặng nề đến linh hồn những con người thành kính mộ đạo.”
 
Vâng, chẳng gì vô đạo lý hơn tấn công tôn giáo. Đúng. “Tấn công vào tôn giáo” là “xúc phạm nặng nề đến linh hồn những con người thành kính mộ đạo.”
 
Nhưng có thật  Salman Rushdie đã tấn công tôn giáo không? Hay, bên dưới những tranh biện có tính phiến diện, thậm chí đạo đức giả ấy, có sự hiểu sai khá nghiêm trọng về bản thể tiểu thuyết?
 
Kỳ thực, đây không phải lần đầu tiên trong lịch sử tiểu thuyết gia bị săn đuổi, bị treo án tử hình vì những điều mình viết trong tác phẩm, gây khó chịu cho giai cấp thống trị. Chính Giáo hội Công giáo Roma – cách đây bốn, năm trăm năm – đã có chính sách đối xử vô cùng khắc nghiệt đối với những kẻ tà đạo như thế. Văn hào Pháp François Rabelais, nếu không có sự che chở hết lòng của Hoàng đế François I, của Đức Hồng Y Jean du Bellay, thì đã phải chịu chung số phận với không biết bao nhiêu người khác chết uất ức, oan khiên trên giàn hỏa thiêu khốc liệt của tòa án xử dị giáo – Inquisition! Và, ngay trong thế kỷ XX vừa qua, khi cái-gọi-là Hiện thực Xã hội chủ nghĩa chiết tỏa lên các xã hội cộng sản, nào ai biết có bao nhiêu nhà văn, viết theo lương tâm mình, đã chết lần mòn trong các trại tập trung, trại cải tạo? Các chế độ cực hữu cũng không khá hơn chút nào. Lenin của cộng sản Nga giết Gumilev thì Franco của Phát-xít Tây Ban Nha cũng không tha chết cho Lorca. Giáo hội  Công giáo Roma thế kỷ XVI, các chế độ cực tả, cực hữu, các thể chế thần quyền Hồi giáo ngày nay đều có chung một tâm thức như thế. Đối với họ, nhà văn là kẻ tà đạo nếu hắn không chịu uốn cong ngòi bút viết theo chỉ thị hay giáo điều của Trung ương, của Giáo hội. Bên cạnh lý do chính trị cần khai trừ những kẻ đi ngược lại đường lối, lý thuyết, chủ thuyết, giáo lý… của đảng phái, tôn giáo mình, những kẻ cầm quyền độc tài còn có một sai lầm cơ bản và tai hại hơn, đó là, họ hiểu sai tiểu thuyết là gì.
 
Trở lại với cuốn Những vần thơ quỷ của Salman Rushdie, những ai đọc kỹ cuốn tiểu thuyết này đều không nhận thấy tính cách báng bổ thánh thần của nó. Ngược lại là đằng khác. Phần lớn cuốn tiểu thuyết (độ bảy phần mười) tinh tế mổ xẻ đời sống những con người bị giằng co giữa hai xã hội: một bên là Tây phương mới mẻ, sinh động, phù phiếm, hướng ngoại và một bên là Đông phương cổ xưa, êm đềm, sâu lắng, hướng nội. Chủ đề ấy tái hiện thường xuyên trong các cuốn tiểu thuyết khác của Rushdie sau này.
 
Điều ấy dễ hiểu. Ông sinh ra tại Ấn Độ trong một gia đình Hồi giáo truyền thống, nhưng khi trưởng thành, ông là công dân Anh và sinh sống phần lớn thời gian tại châu Âu. Những đoạn bị xem là có tính cách báng bổ tôn giáo nằm trong phần hai cuốn sách dưới dạng thức một giấc mơ của nhân vật chính diện, Gibreel Farishta, và giấc mơ biến thành hiện thực khi anh chàng đem nó ra dựng thành phim, một cuốn phim thật tồi, do chính anh chàng thủ vai tổng lãnh thiên thần. Có người gọi đấy là văn chương “hiện thực huyền ảo”, một cụm từ có tính kinh viện, “one size fits all.
 
Đúng hơn, ta nên xem nó là cái khả lý mà Franz Kafka đã giới thiệu tường tận từ đầu thế kỷ XX. Nếu nhìn được như thế thì tất cả những gì bị xem là “báng bổ thánh thần” của Rushdie trở nên thi vị hết sức. Nhờ Rushdie, Hồi giáo trở nên có tính thơ. Rushdie không hề ca ngợi văn hóa đại chúng Tây phương, chẳng những thế ông còn nghiêm khắc phê phán tính phù phiếm của nó. Rushdie là một trong những nhà văn hàng đầu của nền văn học tiếng Anh đương đại. Năm 2007 ông được Nữ hoàng Anh Elizabeth II phong tước Hiệp sĩ – Sir Salman Rushdie! Ngày nay chúng ta phải gọi ông như thế – vì “những đóng góp to tát của ông vào nền văn học Anh quốc.” Sẽ hiểu sai ông biết bao nếu chỉ dựa vào tầng trên cùng của văn bản, và như thế quả là bất công cho ông.
 
Không phải ai cũng nhìn vấn đề như thế. Và trong lúc chờ đợi Godot, các “kẻ tà đạo” đành chấp nhận thái độ thù nghịch đầy bất công của những người không hiểu hay không chịu hiểu mình.
  
Kẻ cuồng tín
 
Người cố sát nhà văn Rushdie là một thanh niên 24 tuổi tên Hadi Matar, một cư dân của thành phố Fairview, bang New Jersey. Khi vụ fatwa xảy ra, anh chưa ra đời, nhưng sự việc anh đâm (cho chết) nhà văn Rushdie khiến ai nấy đều nghĩ anh là kẻ cuồng tín, và nghi ngờ anh phải có chỉ thị từ chính quyền Hồi giáo xứ Iran. Tất cả còn trong vòng điều tra, nhưng gọi anh là kẻ cuồng tín thì không ai bào chữa hay bênh vực cho anh.
 
Nhưng cuồng tín là gì?
 
Bệnh cuồng tín (tiếng Anh có nhiều từ chỉ căn bệnh này: fanatics, ideologues, absolutists) là một trong những thuộc tính ghê sợ nhất của con người. Vì nó mà có chiến tranh hủy diệt, bởi những kẻ như vậy thường tự tin một cách chắc nịch rằng chỉ có họ mới sở hữu con đường độc nhất đi vào chân lý, một chân lý tuyệt hảo đến nỗi họ phải truyền đạt nó lên tất cả mọi người khác. Chân lý tuyệt đối này có thể là ý thức hệ tôn giáo hay chính trị, cánh hữu hay cánh tả, Thiên Chúa giáo hay Hồi giáo, tự do hay cộng sản. Nói cách khác, không phải điều họ tin tưởng, mà là cách họ tin tưởng, rằng phán quyết về chân lý sau cùng là của họ, chẳng cần tìm kiếm đâu xa, chẳng cần minh chứng, chẳng bao giờ phải nghi hoặc.
 
Bệnh cuồng tín giống như á phiện hay ma túy. Kẻ có căn bệnh này say sưa với ý tưởng mình có trong đầu, hắn mất hết mọi khả năng phán đoán thông thường, và chỉ đạo cho mọi hành vi của hắn là một xung lực không thể kềm chế, thường dẫn đến những hậu quả tai hại cho chính bản thân hắn và những người xung quanh. Nếu là kẻ nắm quyền lực trong tay (quyền lực khiến người ta dễ biến thành cuồng tín) thì hậu quả sẽ khủng khiếp khôn lường, như kẻ có tên là Vladimir Putin hiện nay, và trong quá khứ, thế giới từng đổ nát không ít vì những kẻ như thế. Lịch sử mấy nghìn năm của loài người, từ thời cổ đại cho đến ngày nay, không thiếu những kẻ cuồng tín nắm quyền lực tuyệt đối trong tay. Nhưng rất may, nhân loại biết cách loại trừ những kẻ như vậy, nếu không trái đất này chắc đã nổ tung.
 
Còn lại phần nhiều là những kẻ cuồng tín không có quyền lực. Không có quyền lực nhưng cái miệng thì rất to. Và sớm muộn chúng ta đều bị những kẻ ấy phá quấy ít nhất đôi ba lần trong cuộc sống.
 
Kẻ cuồng tín là kẻ không biết Logos là gì. Theo triết học Hy Lạp cổ đại thì Logos là một lý tính toàn nguyên và phổ quát. Nó là nền tảng cho trật tự cùng trí tuệ, trí năng, trí khôn con người để từ đó mọi khả năng lý luận, mọi nhận thức về lẽ phải, lẽ công bình, nghĩa lý, đạo lý, luân lý, lý do, lý lẽ, sự biết điều, sự phải chăng, duyên do, duyên cớ, nguyên nhân, nguyên lý, vân vân, cấu thành con người. Thiếu nó con người biến thành con thú, sống hoàn toàn dựa vào bản năng sinh tồn, vô nhân cách. Ý nghĩa nguyên thủy của từ Logos theo thời gian biến thái dần, nhưng tựu trung nó là món quà độc nhất vô nhị Thượng Đế ban cho con người để con người lần mò tìm tòi ra cách sống chung với nhau trong thế gian này.
 
Kẻ cuồng tín cũng có trí năng, nhưng đó là một trí năng chập mạch, bởi họ lý luận rằng “Cái tôi cho là đúng, phải đúng, và đúng tuyệt đối, không ai có quyền ngăn cản tôi nghĩ như thế.” Quả thật, ta chẳng thể nào đối thoại một cách nghiêm chỉnh, ôn hòa, có tính cách xây dựng với một kẻ cuồng tín. Bạn dùng dữ kiện để biện minh cho sự thật ư? Vô ích. Bạn đưa ra quan điểm chung của đa số ư? Vô ích. Bạn vạch ra sự sai trái của hắn ư? Vô ích. Bạn chẳng thể nào lay chuyển, hòa giải những ý tưởng cực đoan bên trong não bộ hắn. Cho hắn cơ hội phát biểu, bạn chỉ “nối giáo cho giặc” phá tan cái etiquette hài hòa của xã hội.
 
Đó là quan điểm của giáo sư Benjamin De Motte viết trong một bài nghị luận đăng trên tờ Nation năm 1996.
Nhưng mặt khác, một giáo sư khác, ông Stephen L. Carter, thuộc đại học Luật khoa Yale, trong cuốn sách xuất bản năm 1998 nhan đề Civility, thì cho rằng, phương cách duy nhất để đối đầu với chủ nghĩa cuồng tín là lòng thương yêu. Trong cuốn sách đó, ông khuyên khi đối thoại với kẻ cuồng tín, ta nên lắng nghe họ với tất cả sự chân thành, mặc dù trong lòng ta thấy kinh tởm những điều họ thốt ra khỏi miệng. Nếu ta để tình cảm thông thường chi phối, lấy sự phẫn nộ kình chống lại sự phẫn nộ của kẻ đối thoại, ta chỉ chuốc vào bản thân sự đau khổ vì cảm giác cay đắng sau đó, và nung nấu trong lòng ý đồ trả thù. Như thế, nhìn ở bất cứ khía cạnh nào, bạn cũng sẽ biến thành một con người tồi tệ hơn cái bạn đang là.
 
Còn nếu bạn tỏ vẻ tôn trọng và lắng nghe quan điểm của hắn, bạn sẽ tránh được những tình cảm đen tối, và thay thế nó bằng một tình cảm êm đẹp hơn. Bằng cách lắng nghe, bạn sẽ dạy cho thế giới biết đôi điều về bạn. Thậm chí bạn có thể học hỏi thêm, bởi không phải cứ cùng quan điểm với mình mới cho mình hiểu biết thêm về cuộc sống.
 
Tiếp cận một kẻ cuồng tín với sự lắng nghe chân thành và bao dung, bạn sẽ giúp hắn nhiều lắm. Thời nay phần nhiều bọn họ đều là những kẻ buồn bã và cô đơn. Họ cuồng tín vì tâm hồn, tự ái họ bị thương tổn, sâu thẳm trong tâm khảm họ là cảm giác bị bỏ rơi, không ai đoái hoài. Nếu bạn vượt qua được ngưỡng cửa cực kỳ khó khăn của sự va chạm quan điểm, khiến người kia có cảm giác như mình đang được lắng nghe, có lẽ ở bình diện nhỏ nhoi đơn giản nào đó, bạn chạm vào đáy sự việc, tại sao từ một con người hiền lành dễ mến, hắn trở nên hung bạo sẵn sàng ăn thua đủ với bất cứ ai suy nghĩ ngược chiều, và quan trọng hơn, bạn tạo cơ hội để chiếc mặt nạ hung tợn rớt xuống, để hắn trở lại con người bình thường trước kia.
 
Giáo sư De Motte đúng hay giáo sư Carter đúng, vẫn là một tranh cãi (hy vọng là giữa những người không cuồng tín).
 
*

Salman Rushdie
Nhà văn Salman Rushdie
 
Trở lại với nhà văn Salman Rushdie, có lẽ ông sẽ sống sót sau vụ mưu sát ghê rợn này. Sống sót với câu hỏi được đặt ra: Sau khi ra khỏi giường bệnh, ông sẽ là con người khác không? Cận kề với cái chết có làm ông thay đổi cách suy nghĩ? Tôi nghĩ là không. Tôi tin một nhà văn chân chính như ông sẽ vẫn bám chặt một cách không khoan nhượng vào xác tín nhà văn là kẻ dám nói sự thật, bởi sự thật muôn đời vẫn là ngọn đuốc soi sáng cho con người biết lối mà sống như một con người.
 
Trịnh Y Thư 
 

Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.