Hôm nay,  

Việt Báo Trong Trí Nhớ Cổ Tích

09/09/202208:16:48(Xem: 4905)
hình trên báo
Từ trái: Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Kiều Chinh, Phan Tấn Hải, Hòa Bình, Thảo Trương, Hằng Nguyễn

 

 

Nếu tính theo lịch thế gian, Việt Báo tròn 30 năm tuổi. Nhưng, nếu dò theo trí nhớ mơ hồ của tôi, Việt Báo hẳn là 3000 năm tuổi. Trong một ngôi làng rất mực thần thoại cổ tích như Little Saigon của chúng ta, Việt Báo chỉ là một góc nhỏ của làng, nhưng lại là nơi chất đầy trong tôi những kỷ niệm khó quên. Nơi đây, tôi sẽ kể về những hình ảnh mà tôi đoán là ít người nhớ tới trong lời kể từ các bài viết khác về 30 năm Việt Báo.

 

Nhiều người không biết rằng nữ diễn viên Kiều Chinh là một trong những người chạy đi tìm quảng cáo nuôi sống Việt Báo từ những ngày đầu tiên. Một năm sau khi Việt Báo ra đời, có một sự kiện lớn của làng nghệ thuật Việt Nam: phim The Joy Luck Club trình chiếu khắp Hoa Kỳ năm 1993 trong đó một vai chính do Kiều Chinh đóng. Tức là, Việt Báo xuất hiện năm 1992, thì qua năm sau là có sự kiện lớn là lần đầu một phim lớn lại có một nữ tài tử Việt, và tài tử này là một người đã giúp Việt Báo tích cực. Lúc đó, tôi được Việt Báo giao nhiệm vụ là xem phim rồi phải viết bình luận (tôi nhớ là buổi ra mắt phim ở Quận Cam là ở một rạp hát trên đường Westminster, gần góc đường Beach). Các bạn cũng biết, tôi vào nghề báo rất vụng về, vì trước đó chỉ viết truyện, làm thơ và viết bài nghiên cứu về Phật học. Có một thực tế nữa, lúc đó tôi nghe tiếng Anh không đầy đủ, huống gì trên phim The Joy Luck Club diễn viên nói với nhau đâu có chờ cho mình nghe đâu. Tôi đã chọn cách dễ nhất: nhớ nữ diễn viên Kiều Chinh nói gì thì ghi lại, lược bớt, và rồi tổng hợp, bổ túc thêm bằng cách dịch lại từ nhiều bài bình luận của báo Mỹ về phim này. Kinh nghiệm này là bài học lớn cho tôi về nghề báo: phải đọc nhiều, nghe nhiều, tổng hợp nhiều -- dĩ nhiên, khi trích dẫn phải ghi nguồn để không bị chụp mũ là đạo văn.

 

Kỷ niệm lớn nhất của Việt Báo là bộ sách Viết Về Nước Mỹ, gom bài từ giải thi Viết Về Nước Mỹ. Nghĩ ra giải thi viết là do nhà báo Trần Dạ Từ. Giải thi này gần như lập tức thu hút người viết khắp thế giới. Và đa số người tham dự đã viết rất hay, rất xuất sắc. Về sau, điều hành chủ lực các lễ trao giải Viết Về Nước Mỹ hàng năm là anh Nguyễn Xuân Nghĩa, chị Trương Ngọc Bảo Xuân… trong khi đó, giữ nhiệm vụ MC thường trực là chị Thụy Trinh, LS Nguyễn Hoàng Dũng. Có một người sau khi tham dự một buổi lễ trao giải Viết Về Nước Mỹ đã về nói với tôi, rằng điều kỳ lạ rằng, tất cả những người nữ -- từ những người tham dự giải thi viết cho tới người trong tòa soạn Việt Báo -- đều rất đẹp. Tôi nói, họ đều là hoa hậu cả đấy, từ già tới trẻ, đều là quốc sắc thiên hương. 

 

Một điểm có vẻ như tình cờ: Việt Báo gắn bó, thân tình với các hoạt động Phật Giáo. Trước khi vào Việt Báo, tôi viết nhiều bài về nghiên cứu Phật học, nhưng chuyện này không dính gì tới Việt Báo. Có một điểm rất ít người biết: nhà văn Nhã Ca, người sáng lập Việt Báo, là một học trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Liên hệ đó là qua cố Đại sư Tây Tạng Tsultrim Gyeltsen (người được nhà văn Nhã Ca gọi thân mật là Geshela) vị thầy khi sinh tiền thỉnh thoảng vẫn tới thăm  tòa soạn Việt Báo. Và một lần, Giáo sư Tenzin Dorjee đã chở ngài Geshela tới tận nhà tôi, nói rằng để làm phép 4 góc nhà và tụng chú quanh nhà để cầu an (tự động Đại sư có ý như thế, chứ tôi không nghĩ ra chuyện như thế). Lúc đó, ngài Tsultrim Gyeltsen tặng tôi 2 cuốn sách tiếng Anh về Trung Luận do Đại sư mới ấn hành. Ngài là Giáo sư về Phật học, dạy cùng trường UCLA với ngài Thích Thiên Ân.

 

Ngài Tsultrim Gyeltsen và GS Tenzin Dorjee (dạy ở CSU Fulleton) thường tới thăm tòa soạn VB. Anh Dorjee là con nuôi của nhà văn Nhã Ca, và trở thành cầu nối Đức Đạt Lai Lạt Ma với cộng đồng Việt tại Quận Cam. Cũng chính tòa soạn Việt Báo là nơi tôi phỏng vấn chị Huyền, mẹ của cậu thiếu niên Don Pham được Thầy Gyeltsen đón sang Dharamsala để cậu Pham vào tu viện Tây Tạng học từ khi 15 tuổi; bây giờ nhà sư trẻ này đã là Tiến sĩ Phật Học Tây Tạng, sau học trình đã nhập mật thất thêm nhiều năm.

 

Việt Báo cũng có cơ duyên thân tình với Công Giáo: đăng nhiều bài và phỏng vấn luật sư Nguyễn Mạnh San, một Phó tế Công Giáo và là người có hạnh tu đức rất mực gian nan: trong hơn 20 năm đã tình nguyện vào các nhà tù Oklahoma để trợ giúp pháp lý cho tù nhân, an ủi, mời gọi cầu nguyện chung. Tôi đã giúp Thầy San (trong cách gọi thân mật) ấn hành sách bản tiếng Việt nhan đề “Luật Pháp Hoa Kỳ Thực Dụng” trong đó Thầy San kể về những nam nữ tù nhân gốc Việt trong nhà tù Oklahoma. Tôi đã làm một số video phóng lên YouTube để ngợi ca hạnh nguyện rất gian nan của Thầy San, vì lẽ ra Thầy San có thể kiếm tiền nhiều hơn thay vì tình nguyện vào giúp pháp lý trong tù. Chức vụ chính thức của Thầy San là đặc trách Tông Đồ Mục Vụ Trại Tù cho Tòa Tổng Giám Mục hơn 21 năm liên tục, để giúp đỡ trực tiếp các anh chị em tù nhân về vấn đề pháp lý, trước khi về hưu vào năm 2012. Bạn sẽ thấy nhiều video và bài viết về Thầy San, khi bạn vào YouTube hay Google, gõ chữ “Phó Tế Nguyễn Mạnh San.”

 

Chuyện này cũng ít người nhớ: Việt Báo cũng có cơ duyên đăng những bài và lời kêu gọi đầu tiên của Mục sư Nguyễn Xuân Bảo, người khởi động xây giếng, đào giếng, tặng gạo tại các vùng xa xôi ở Miền Tây VN. Thời gian đầu, nhiều báo khác, nhiều đài phát thanh tránh né, không dám đăng bài của Mục sư Bảo vì sợ bị chụp mũ là giúp xây dựng kinh tế cho CSVN. Tôi liều mạng đăng đầu tiên, vì nghĩ rằng không ai nỡ chụp nón cối cho Việt Báo, nơi gần như tất cả những người chủ trương đều đã nằm tù CS nhiều năm, như Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Thảo Trường, Hồ Văn Đồng, Doãn Quốc Sỹ… (mà cộng các năm tù lại, nhiều hơn một thế kỷ). Thế rồi có một lần, nhà thờ của Mục sư Nguyễn Xuân Bảo bị đốt, cháy một góc; nhưng điều đó không ngăn được việc làm từ thiện của Mục sư. Mục sư Nguyễn Xuân Bảo kể rằng sau một chuyến đi từ thiện, khi máy bay ngừng trung chuyển ở Seoul, Nam Hàn, lúc đó là mùa World Cup, Mục sư Bảo nói, “Nơi phi trường, tôi chỉ nhớ duy nhất một người là anh Hải, nên tôi mua một quả bóng đá có huy hiệu World Cup để về tặng anh Hải, cho đứa con anh nó tập chơi bóng đá.” Làm từ thiện nhiệt tâm như Mục sư Bảo quả nhiên là hy hữu.

 

Trong tòa soạn, ai là người về nhà trễ nhất? Tôi vẫn nhớ những ngày xa xưa Việt Báo hình ảnh nhà thơ Lê Giang Trần cặm cụi trên các trang giấy dán. Thời xưa, chưa có máy điện toàn, tới khi có máy điện toán thì dấu tiếng Việt chưa có. Do vậy, phải cắt dán. Về nghệ thuật cắt dán, siêu đắng nhất trong nghề báo ở Quận Cam là Lê Giang Trần (tôi không nghĩ ra có ai giỏi hơn anh này). Tôi có nhiều kỷ niệm với Lê Giang Trần, vì tôi dịch tin xong, hay viết bài xong, là in từ máy điện toán ra cho công đoạn cuối của tòa soạn là cắt dán, rồi mới đưa các khuôn đó sang nhà in; nghĩa là, người về nhà trễ nhất phải là Lê Giang Trần. Tới khi có chi nhánh Việt Báo ở San Jose, Chấn Lê lại là người cực nhọc vì phải đưa các khuôn đã trình bày đó tới phi trường, gửi phi cơ tới San Jose, nơi sẽ có người nhận để đưa tới nhà in. Nghĩa là, khi đó, về nhà trễ nhất lại là Chấn Lê. Nói như thế cũng chưa đúng, vì mọi người đều cho là anh Trần Dạ Từ mới là người về trễ nhất. Trong trí nhớ của tôi, anh bao giờ cũng ở tòa soạn, làm gì có giờ về nhà.

 

Có một chu kỳ nghệ thuật: mỗi năm sẽ có một ngày tòa soạn Việt Báo mệt nhọc vì Giải Điện Ảnh Oscars. Tới khi nước Mỹ có Internet, thì mọi chuyện đơn giản hơn: phải chờ cho Đại Hội Phim Ảnh Oscars có danh sách thắng giải, dịch ra thành bản tin, rồi mới về nhà. May mắn cho Việt Báo: từ khi anh Huỳnh Kim Quang vào làm việc, những chuyện cực nhọc và gian nan nhất đã có anh chung sức gánh vác. Do vậy, những đêm khuya phải thức chờ danh sách thắng Giải Oscars vui hơn, đỡ mệt nhọc hơn.

 

Tương tự, cứ mỗi 2 năm nước Mỹ lại có bầu cử. Ngày bầu cử thường kết thúc lúc 8 giờ tối, sau đó phải chờ thêm vài giờ đồng hồ mới có kết quả bầu cử sơ khởi. Thế là anh Huỳnh Kim Quang gánh vác các bản tin về bầu cử. Tin càng sớm càng tốt, nhưng để trễ thì độc giả rầy.

 

pth nc

Việt Báo mỗi năm có Báo Xuân. Tờ giai phẩm này làm rất cực nhọc. Kể như là tim, là óc – thực sự, chứ không đơn giản là giấy mực. Bỏ ăn, bỏ ngủ làm Báo Xuân cực nhọc nhất là anh Trần Dạ Từ, rồi anh Nguyễn Xuân Nghĩa. Tôi may mắn, không trách nhiệm nặng về Báo Xuân, vì chỉ viết một truyện ngắn cho mỗi năm là tự thấy là đủ. Tuy nhiên, Báo Xuân Việt Báo năm nào cũng trễ hơn các tòa soạn khác. Biết làm sao bây giờ? Bởi vì anh Trần Dạ Từ lúc nào cũng muốn toàn hảo, nên trễ là tất nhiên. Dù vậy, năm nào Báo Xuân Việt Báo cũng là tuyệt vời nhất thế giới (xin thú thật, tôi có bệnh luôn luôn đánh giá thiên vị).

 

Có một kỷ lục báo khác không thể có: anh Trần Dạ Từ, người sáng lập Việt Báo, cũng là nhạc sĩ sáng tác. Tính tơi bây giờ đã có 2 CD nhạc. Đầu tiên là CD Nụ Cười Trăm Năm (đêm nhạc ra mắt CD là năm 2011), và CD Gội Đầu Bay (đêm nhạc ra mắt CD là năm 2015).

 

Hai Phan
Chủ Bút Phan Tấn Hải trước cửa tòa soạn Việt Báo, Westminster.



Nhớ lại những ngày ngồi trong tòa soạn Việt Báo, kỷ niệm mơ hồ như trí nhớ đã mọc rêu mốc nhiều ngàn năm. Nơi đây tôi đã gặp Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Thảo Trường, Kiều Chinh, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Hồ Văn Đồng, Nguyễn Đức Quang, Phạm Duy, Nhật Tiến, Nguyễn Khắc Nhân, Hoàng Quốc Bảo, Cung Tiến, Khánh Ly, Trần Duy Đức, Trịnh Thanh Thủy, Trần Chí Phúc, Thu Vàng, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Quốc Thái, Lê Lạc Giao, Cung Tích Biền… Cũng như các họa sĩ:  Ann Phong, Nguyên Khai, Nguyễn Việt Hùng, Phan Chánh Khánh, Rừng, Khánh Trường... Và đặc biệt, là được gặp các bạn đang hộ trì VB hiện nay: Hòa Bình, Trịnh Y Thư, Nguyễn Thanh Huy, Hằng Nguyễn, Huỳnh Kim Quang…

 

Tôi có cảm giác Việt Báo là cái gì xa lắm, rất mực cổ tích. Nơi đó, là một tờ báo trong ngôi làng Little Saigon, nơi mọi người đều xuất hiện trong trí nhớ lung linh… Việt Báo, nơi mọi người đều tử tế, đều nhiệt tâm… Mọi chuyện về Việt Báo đều huyền ảo trong trí nhớ… Và là một phần lớn, một phần rất lớn trong đời tôi.

 

Phan Tấn Hải

 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.