Hôm nay,  

Vai trò của Phụ Nữ

24/03/202300:00:00(Xem: 3229)

Vai tro cua phu nu
Trong buổi tiếp kiến ban biên tập nguyệt san “Phụ nữ Giáo hội Thế giới” của báo Quan sát viên Roma của Toà Thánh, trong tuần qua, dịp kỷ niệm 10 năm thành lập, Đức Thánh Cha khích lệ mọi người và nói: “Phụ nữ có khả năng nói ba ngôn ngữ: lý trí, trái tim và đôi tay”.
  
Có phải Đức Thánh Cha muốn nói: Đối với phụ nữ ba điều này là một: Một người phụ nữ thông minh họ có thể dùng đầu óc mình để thành đạt trong học vấn, trong nghề nghiệp nhưng đồng thời với trí óc thông minh, trái tim mẫn cảm, họ cũng dùng thêm đôi tay của mình để tạo ra những sản phẩm đẹp đẽ và đầy trí tuệ, đầy tình yêu.
 
Khi phần đông những người đàn ông dùng lý trí, sự thông minh của mình để đạt đến mục tiêu tốt đẹp và thành công thì người phụ nữ ngoài hai yếu tố trên, họ còn gửi cả trái tim của mình vào đó. Phụ nữ làm công việc gì, dù khó đến đâu họ cũng không quên, bao giờ cũng có một phần của lòng từ mẫn, sự mềm yếu của tráí tim. Giống như chiếc bánh khi vừa mới mang ra khỏ lò, họ cần phải rắc thêm một chút đường bột hay đặt một vài bông hoa bơ trước khi đặt lên bàn. Rắc đường, hay đặt hoa đều phải dùng đến bàn tay. Cuối cùng để hoàn tất một công việc tốt đẹp, họ điều nhờ đến: Lý trí, trái tim và đôi tay. Trong khi đó người đàn ông (phần đông) chỉ hoàn toàn dùng lý trí.
 
Đức Giáo Hoàng cũng đưa ra một nhận xét khi Ngài chứng kiến những phụ nữ xếp hàng thăm con đang ở trong nhà tù: “phụ nữ không bao giờ bỏ con trong bất cứ hoàn cảnh nào.”
Ngài còn nhấn mạnh: Phụ nữ có khả năng quản lý và suy nghĩ hoàn toàn khác với chúng tôi và tôi cũng có thể nói là vượt trội hơn chúng tôi theo một cách khác. Chúng tôi cũng thấy điều đó ở Vatican: ở đâu chúng tôi đặt phụ nữ, mọi thứ thay đổi ngay lập tức”.
 
Phụ Nữ là Tặng Phẩm của Thượng Đế
 
Chúng tôi là báu vật của Thượng Đế
Chúng tôi là hậu duệ của Eva
Chúng tôi sinh ra con cái cho các anh
và chúng tôi làm mới vũ trụ này
 
Chúng tôi có thể làm những công việc trí tuệ bằng đầu óc ở văn
phòng
Nhưng bằng đôi tay
chúng tôi còn nấu chín hạt gạo thành cơm,
nướng một ổ bánh
cho gia đình và chăm lo con cái
chúng tôi đặt cả trái tim mình vào đó
Nên người ta đã nói
Đàn ông xây nhà
Đàn bà xây tổ ấm
Không phải có cái mái
có bốn bức tường là thành một gia đình
mà chính bên trong bốn bức tường đó
cần có một trái tim mẫn cảm
cần có hai bàn tay khéo léo
để giữ cho ngọn lửa trong bếp
luôn có mảnh than hồng
 
Chúng tôi suy nghĩ và chúng tôi cảm nhận
Chúng tôi làm việc bằng những cảm nhận của mình
Khi có khó khăn trong gia đình
người đàn ông muốn rút lui
thì chính chúng tôi mang mình ra gánh vác
 
Chúng tôi vá những chiếc lưới mục nát
khi người đàn ông đã định vứt đi
vì họ luôn luôn muốn thay cái mới cho cái cũ
còn chúng tôi luôn luôn muốn làm cái cũ mới lại
 
Khi có những đứa con đi lạc
Người Cha có thể giận bỏ luôn
nhưng Người Mẹ thì
tìm mọi cách mang con về
vì Người Mẹ không bao giờ bỏ được con mình
 
Lý trí, trái tim và bàn tay
là ba báu vật
Thượng Đế đã trao cho E-Và
 
Chúng tôi đã nhận
và chúng tôi muốn hoàn tất cả ba ân sủng tốt đẹp này
 
Hãy tôn trọng chúng tôi
vì Đàn Bà là tặng phẩm quý giá
Thượng Đế ban cho loài người.
 
– Trần Mộng Tú
3-14-2023
 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.