TRANG THƠ THỨ BẨY

21/10/202308:49:00(Xem: 3206)

Bram van Velde - Sans titre, 1947

Với sự góp mặt của ba nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, Trần Hạ Vi và KC Nguyễn. Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn vẫn chứng tỏ sức sáng tạo sung mãn sau nhiều thập kỷ sống và viết ở nước ngoài. Thơ ông là cuộc thăm dò ngôn ngữ bất tận để làm bật lên những nét độc đáo khác lạ, những ánh sáng tân kỳ hoặc những ngõ ngách tăm tối của hiện tồn. Những điều ấy, thực chất, là chủ đích muôn đời của thi ca. Với Trần Hạ Vi, một nhà thơ sinh sống sau Hoàng Xuân Sơn cả một thế hệ, thì thi ca là nỗi nghi hoặc thơ mộng của tình yêu và những điều không có thực. Ngôn ngữ Thơ của chị hòa nhập trong cuộc sống đương đại, vốn đa đoan phức tạp bộn bề, nên dễ dàng đi vào tim người đọc. Với KC Nguyễn, một nhà thơ mới xuất hiện gần đây nhưng đã chứng tỏ được một bản lĩnh thi ca vững vàng, thì Thơ là một trận chiến không ngừng nghỉ giữa những điều mâu thuẫn không thể dễ dàng lý giải bằng bất cứ ngôn ngữ nào ngoại trừ thi ca. Việt Báo trân trọng giới thiệu. – TYT

 

*

 

HOÀNG XUÂN SƠN

 

Mồm cát

Hãy nuốt chửng thiên địa
đừng lôi tôi lên cao
trứng rùa nở thập ác
một ngàn năm cắm sào

Biển sóng còn nô lệ
khi bọn người hết đi
những cái thuyền lật úp
cát thì cứ rù rì

Lở mồm muối mặn chát
lũ con trai mê hàu
cái sò không chịu húp
huyết hận một đường râu

Ăn nguội một bãi đáp
nhớ lỗi lầm đeo tên
kim bài lẫn với cát
làm sao trục vớt nền

Xưa còn đất hương hỏa
giờ bụi cát rền trời
những chái tâm vàng hóa 
tro bùn một cơ ngơi

Hãy lệt bệt mà đi
hãy bình tĩnh ngồi xuống
gặm một lá vàng quỳ
những lùm hoa ngất ngưởng

Bây giờ và xưa sau
hỏi đám con cầu tự
lăng miếu nằm nơi đâu
cát và mồm ăn vạ

 

(2 tháng 9 năm 2023)

 

*

 

TRẦN HẠ VI

Tình cờ Chicago


trong những tình cờ đến đi
gặp nhau ở một thành phố đã từng cháy rụi
một trăm năm mươi hai năm trước
vì một con bò mang tên Daisy

chúng ta
những phương trình hồi quy
những thuật toán algo
những chương trình huấn luyện AI
và dòng chảy ký ức

hai mươi ba năm
một ngôi sao sáng chói trong tiềm thức
dẫu đã nhòa
vẫn sáng mãi tuổi đôi mươi

khi chúng ta đã biết sống chậm hơn
thở nhịp thở thành phố biển cực Nam
cười nụ cười thành phố hồ phương Bắc

Chicago thao thức
ngàn mắt sáng chong đêm
thành phố của những tòa nhà chọc trời
của người kiến trúc sư cao nhất thế giới

một hòn sỏi lăn đi
hai hòn sỏi lăn đi
trái tim thiên di
tan loãng vào không khí

con bò Daisy không gây ra đám cháy
Chicago xây dựng từ lụi tàn
chúng ta lầm lũi nhặt từng mảnh ghép
viết tên mình vào vạn quyển kinh thư

thành phố thầm thì
giá như...


Tháng mười Chicago

 

Chicago đầy gió

Chicago đầy mưa

Lần dấu con đường xưa nhặt gió

Dẫu chúng ta

chưa bao giờ hôn nhau

 

Thành phố có một con bò

nổi tiếng trong truyền thuyết

khều đổ ngọn đèn

theo gió lửa loang cháy ngút ngàn

 

Em có một người yêu tuổi con bò

khờ khờ thật thà lém lỉnh thông minh

khều rơi nút chặn

trái tim em chảy tràn tình ca đôi mươi

nhạc điệu hoài vương vấn

gió mùa thế kỷ

gió một phần tư

 

Lòng hồ thăm thẳm trầm mặc thực hư

Em chưa từng soi mình vào hồ

Em chưa từng cởi áo gởi gió

Em chưa từng hôn người

 

Nhưng người là của em

con bò là của em

ngọn gió ẩm hơi thu là của em

thành phố là của em

 

dẫu chúng ta

chưa bao giờ gặp nhau

ở Chicago

 

ơi tháng mười Chicago

ơi tháng mười

Chicago

 

 

Tin nhắn cuối cùng

Tin nhắn nào
cũng có thể
là tin nhắn cuối cùng

Sống như đi trên một lưỡi dao
Niềm ám ảnh ngọt ngào
Nỗi sợ khi nhìn thấy WhatsApp
Một icon nhỏ xanh nhiều bí mật
Phập phồng con tim

Hồi hộp và khao khát
I don’t know!
Những bất định vô cùng hấp dẫn
Sự chờ đợi và không chắc chắn
I don’t know!
Đôi khi khó chịu muốn vỡ tung lồng ngực
Đôi khi như giọt mật thấm đầu lưỡi từ từ

Dating là một trò chơi hào hứng
Bao giờ ta mới quen
Bao giờ ta mới tập được lòng an tĩnh

Tin nhắn nào
cũng có thể
là tin nhắn cuối cùng


*


KC NGUYỄN

 

Tôi nghe thiện ác chào nhau

 

trận địa lại mở ra

ở một góc thật xa của đại lục nơi tôi sinh trưởng

lần này sự tàn khốc của chiến tranh bám vào đầu không buông nhả

ngày xưa, tôi còn trẻ

điếc và mù

 

có thể tin vào mắt không

một hòn than còn lại trong chiếc nôi hoen đỏ

một hòn  than

tối qua có ngủ ngoan không bé

và những con tin

cố choàng dậy từ ác mộng có cắn nát môi

 

trắng, một hàng bao to

sự yên lặng thuộc về các người, sự đen ngòm câm lặng

trong ngôi mồ tập thể, những lời chúc buổi sáng buổi chiều buổi tối không bom đạn

lại có thể trao nhau

có thể tin được không, cuộc bao vây

người cha che con nhỏ dưới bầu trời mù quáng

vực thẳm xanh biếc và những tia chớp loé

ngôn từ không thể nào giải mã

sự thù hằn, một hố rất sâu

 

​​đem tôi trở lại ký ức xưa

để giọt nước mắt bây giờ có mùi của bông dừa và đồng ruộng

 

biết nhìn, biết nghe, biết cảm

tôi nói với những người đàn ông vai đeo súng

cảm ơn các anh, bên này và bên kia chiến tuyến

đã không giết trẻ ngủ say

 

biết nhìn, biết nghe, biết đoán suy

tôi nói cuộc nổi loạn của các thiên thần đang chịu lửa thiêu nóng bỏng

một chiều và đơn giản

góc trời xa, cũng là trừng phạt

nhưng bên này lẫn bên kia chiếc hàng rào thù địch

tôi nghe thiện ác chào nhau

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.