Hôm nay,  

Phân Lý Văn Học

03/05/202400:00:00(Xem: 3406)
van hoc
 
 
Những bài viết phê bình về tác phẩm hoặc tác giả hoặc cả hai mà tôi đọc được trong nhiều năm qua thường xuyên không hội đủ tiêu chuẩn. Một số bài nghiêng về nhận xét, một số lớn khác chủ yếu là quà cáp.

Phê Bình Chuyên Và Chơi.

Đa số người viết thể loại này không trải qua quá trình nghiên cứu văn học phê bình hoặc không tu tập qua hệ thống hàn lâm. Kết quả thường cho thấy là những bài viết theo sở thích cảm tính, kinh nghiệm chung, mô phỏng hoặc bắt chước những bài viết nổi bật đã có sẵn.  Trong khuynh hướng đó, ít thấy khả năng sáng tạo trong các bài viết này. Sáng tạo là một trọng điểm làm cho bài viết phê bình có giá trị.

Một nhận xét tổng quát như vậy sẽ bỏ sót vài khía cạnh quan trọng, đó là một số ít nhà văn sinh nhi chi tri, có khả năng thông diễn, họ có thể nhìn thấu suốt một tác phẩm hoặc tác giả để đưa ra nhận định và phê phán tài hoa, hợp lý, đáng thán phục. Những vị này mà tôi được biết, họ thuộc vào tiểu thiểu số, mỗi thời đại chỉ có vài người, họ rất thận trọng về việc viết bài phê bình vì không ai lường được sự ảnh hưởng của nó như thế nào, nhất là khả năng ám ảnh của nó đối với tác giả cũng như độc giả.

Dĩ nhiên, một số ít khác được đào tạo chính qui, trường ốc. Họ có thể không phải là những nhà phê bình xuất sắc nhất, nhưng sự hiểu biết “có học”  và kinh nghiệm thực tập sẽ giúp họ tránh những lỗi căn bản hoặc những lỗi tự biên tự diễn trên mặt kỹ thuật, để tiếp cận một bài phê bình có giá trị, miễn họ đừng rơi vào trường hợp ân đền oan trả.

Qui tắc của học thuật là sự cập nhật. Cho dù đạt mức độ bằng cấp nào hoặc mức độ hiểu biết nào, nhà phê bình luôn vả đồng thời là nhà nghiên cứu văn học. Nghiên cứu là xương sống của phê bình.

Nếu đọc một bài viết trong thể loại hư cấu hay như truyện và thơ mà còn nhận ra quan điểm và ý nghĩa, thì một bài viết phê bình càng cần phải có quan điểm riêng, sâu sắc hoặc nổi bật, một thông điệp văn học, và ý nghĩa, không chỉ về tác phẩm hoặc tác giả, mà cần thiết hơn là về tại sao phải viết bài phê bình này.

Viết chơi. Không một ai có thể ngăn cản được việc viết chơi cho vui. Ý thức này thuộc về người viết. Sự tai hại của viết chơi, nhất là những bài viết từ các cây bút lão thành hoặc nổi cộm trên văn đàn đương thời, sẽ khiến cho người đọc bình thường, người đọc trẻ, hiểu lầm ý chơi đó là thật. Văn chương thì có văn chơi, văn vui, văn giải trí, văn của cái tôi hoàng tráng, nhưng trong văn học thì không có.

Đa số viết chơi thường phát xuất từ tài năng nhận xét sắc bén, cãi nhau thường dành phần thắng, được một nhóm người ủng hộ về tài văn chương, tài ăn nói, tài thuyết phục… Trong khí thế đó, viết chơi đôi ba bài, được đồng lân tương cận thưởng thức, hưởng ứng, từ từ trở thành nhà phê bình. Quá trình tự thưởng, selfie này cũng áp dụng cho nhà thơ, nhà văn, và các nhà khác. Sau này, khi văn học tạo ra lớp nhà phê bình về phê bình, kiểm soát những bài viết chơi, thiếu chuyên nghiệp là mục đích phụ. Mục đích chính là đánh giá phẩm chất của những bài phê bình chuyên. Dường như, bài viết phê bình mang theo bản chất xung đột. Nếu người đọc thiếu bình tĩnh, không nắm rõ lý do tại sao cần phải có phê bình, hoặc hẹp rộng lượng, thường nộ khí xung thiên.

Nghĩa Cận Của Phê Bình.  

Chữ “phê” đứng trước chữ “bình” thông thường bị hiểu lầm là công việc vạch lá tìm sâu, lục xét tìm kim cương thì ít mà tìm bạch phiến thì nhiều. Dù “phê” và “chê” cùng vần, nhưng chữ “phê” này không mang tính hăm dọa. Cũng không liên quan đến chữ “mê”, chữ “bê, bao gồm bế bồng.” Văn chương là nơi sáng đẹp, văn học là tìm giải và trưng bày cái đẹp cái sáng, vì vậy, phê là diễn đạt khi nhìn thấy ánh sáng chiếu lên vẻ đẹp nét hay. Tuy không thể tránh khỏi trong vùng ánh sáng tỏ ngời đó, sẽ cho thấy những thứ kém đẹp, ít hay, nhưng những thứ đó là thứ yếu. Tương tựa như cái hay lộng lẫy trong thơ Bùi giáng làm nhạt nhòa nhiều cái dở trong thơ ông.  

Tôi không chiết tự bằng Hán việt, chỉ nói theo nghĩa thông thường. Chữ “bình” tất nhiên sẽ kéo theo chữ “luận,” nhưng phía trước chữ “bình” phải là chữ “công.” Một bài viết phê bình, dứt khoát phải có “công bình luận.” Trong mọi trường hợp, có thể bình sai, bình tối, bình dở nhưng thiếu “công” là thiếu giá trị.

Nhà phê bình thường trích những đoạn văn, thơ hoặc những câu thơ, câu văn đắt giá để dẫn chứng, minh chứng một luận lý hoặc quan điểm nào đó. Người viết thiếu sáng tạo thì trích quá nhiều. Không dùng trang trống để lý luận mà lấp đầy bằng chép lại. Việc tìm đọc cái hay cái đẹp cái ý nghĩa để dành cho độc giả, việc cần làm của phê bình là chỉ hướng, tạo một bản đồ để độc giả đi tìm kho tàng.  

Những nhà văn giao du rộng rãi, bia rượu ê hề, bắt tay liên tục, thường bị du vào cái thế “phải viết.” Bất kỳ là viết thứ gì, ngoài đơn đặt hàng và thưa kiện, “phải viết” về văn chương, nhất là về văn học, tất nhiên là không đạt dù tô điểm, trang sức bằng cách nào.

“Phê bình mà chỉ khen, không chê, thì viết làm gì.” Không đúng. Tuy khen sai là chê, chê sai là chứng cớ trình độ viết, khen đúng là việc cần phải làm và nếu chê sai thì xin lỗi. Muốn làm nhà phê bình chân chính da mặt phải dày, da lưng da mông cũng phải dày để chịu đựng roi vọt.  

Hầu hết điều rắc rối là chúng ta thà bị hủy hoại bởi lời khen ngợi còn hơn được nuôi dưỡng bởi những lời chỉ trích. The trouble with most of us is that we would rather be ruined by praise than saved by criticism (Norman Vincent Peale.) Câu nói này làm nổi bật khả năng lợi ích của phê bình, hơn nữa, chính xác là “cứu”, nuôi dưỡng một tài năng. Phê bình không phải để giết, mà để gia tăng sinh lực hoặc phục sinh tác giả, nhưng không phải nuông chiều hoặc kính cẩn.

Nếu chúng ta thỏa thuận những liên điểm nêu trên và ủng hộ lòng trung thực tiếp cận 100%, thì chuyện còn lại là trình độ hiểu biết, thẩm thấu về phê bình của người viết.

Trồng cây ăn trái: trồng từ hạt giống hay trồng cây con? Hay chờ cây đã mọc khá cao, mang về trồng cho dễ sống, mau đơm kết quả? Chặt cây: Dùng làm củi đốt hay chặt cành xấu cho cây đẹp hơn, nhiều sinh lực hơn? Trong phê bình, những câu hỏi cũng tương tựa như vậy.

Về Phê Bình.

Khi chủ nghĩa phê bình lên cao độ, một khái niệm cực đoan thành hình ủng hộ phê bình như thẩm phán tối cao, cầm cân, cầm búa, phán quyết tác phẩm và tác giả. Nhiều nhà văn phương Tây khổ sở vì tòa tối cao này trong thời kỳ đó. Một khái niệm cực đoan khác xuất hiện, chống lại uy quyền của thẩm phán văn học, một số nhà văn đã cho rằng, văn chương không cần phê bình. Trong thực tế, phê bình là một phần của văn học, ảnh hưởng trực tiếp đến văn chương, ở một vị trí đặc biệt, không phải thẩm phán, cũng không phải vô chính phủ, là một trí tuệ bảo vệ văn học, phát triển làm đẹp làm hay thêm văn chương, là một loại sáng tạo có cơ sở.

Trước hết, phê bình là một khả năng bẩm sinh, nhưng cần tu bổ và cải thiện bằng học tập hoặc nghiên cứu. Trên căn bản, phê bình là một môn học có đường lối, phương án, hệ thống, là một khoa học nhân văn.

Nội dung của bẩm sinh rất khó thấu đáo, với khoa học não bộ đang tiến triển, quá trình DNA đang được khai phá, khoa khảo cổ tìm thấy nhiều chứng cớ về lịch sử con người, e rằng định nghĩa bẩm sinh sẽ thay đổi. Lúc này, bẩm sinh được hiểu là thứ gì có sẵn, vừa sinh ra đã mang theo. Thứ này có tinh túy nhưng không có cường lực và trường độ. Vì vậy, cần được tu tập mới phát huy. Phát huy đến mức độ nào là do khả năng học hỏi, lòng say mê hiểu biết, ý chí, và may mắn. Ai cũng có kinh nghiệm về cái thứ gọi là bẩm sinh tốt, nhưng khó trao hết trọn vẹn niềm tin cũng như mua bảo hiểm cho nó. Lúc nào nó mang hiệu lực đến? Lúc nào nó bỏ đi? Lúc nào nó thực sự là nó? Lúc nào nó bị cái tôi giả dạng? Không ai có thể trả lời những câu hỏi này.
 
Bẩm sinh về văn chương thường thể hiện trong những người nhạy cảm với vẻ đẹp, nét hay, ý nghĩa sâu đậm, đồng thời họ có khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ, chẳng những lưu loát, chính xác, mà sự diễn đạt làm cho đối tượng, nội dung tăng thêm giá trị. Bẩm sinh về phê bình có chỗ khác biệt. Từ nhỏ, “nhà phê bình tương lai” thường có khả năng nhận xét cao, nhiều xác suất đúng và khả năng lý luận tỉ mỉ, có lề lối, trước tuổi, tạo cho người lớn kinh ngạc như trường hợp ông Lê Quí Đôn khỏa thân đố chữ, khi còn để chỏm.

Khả năng nhận thức và khả năng lý luận là nền tảng cho nhà phê bình. Khả năng sáng tạo là phần hình nhi thượng, đánh giá tác phẩm phê bình và tác giả.

Nhận thức, tiên phuông, là ý thức ngoại cảnh từ ngủ quan và quá trình suy tư; ý thức nội cảnh bằng tưởng tượng. Sau việc tiếp thu và diễn giải, tiếp theo là quá trình cộng hưởng với vô thức. Nhận thức được các nhà khoa học thần kinh chia làm hai: nhận thức và siêu nhận thức. Tài hoa thường phát xuất từ siêu nhận thức.

Lý luận, bản thân nó là một thể loại khoa học, có quy luật, có phương pháp, có tiến trình và có học tập. Tuy nhiên, khi vượt lên, luận lý trở thành nghệ thuật, như một khối hình vuông trở thành khối đa dạng, không đếm được. Một vấn đề có nhiều cách lý luận. Để tiếp cận sự đúng và sai, có nhiều đường lý luận khác nhau. Phê bình nào không có một cơ sở luận lý chặt chẽ, mạnh mẽ, thường không sống sót trong lịch sử văn chương. Vì vậy những bài viết chơi sẽ chỉ là những bài viết chơi với hậu quả gây rối nhiều hơn là ích lợi. Một nhà phê bình chính thống sẽ có nhận thức rõ ràng thứ nào chơi, thứ nào thật.


Tầm quan trọng của luận lý phê bình là xây dựng cấu trúc tổng quan và cấu trúc chi tiết để có đủ vững chắc trước khi đặt kết luận về giá trị, ý nghĩa, tài sắc của tác phẩm hoặc tác giả. Kết luận càng lớn trọng lượng, càng cần một cấu trúc có khả năng không dễ sụp đổ. Cứ tưởng tượng, bạn đặt một pho tượng đồng nặng ký lên một đài gỗ ván ép. Thử hỏi, liệu pho tượng đó đứng được bao lâu? Vì vậy, hầu hết giá trị khen hay chê không quan trọng bằng giá trị lý luận đi đến khen chê. Người có trình độ khi đọc bài phê bình, việc đầu tiên là xem cấu trúc lý luận, rồi mới xét đến nhận thức. Sau đó, xét về cơ cấu toàn bài và thưởng thức sự sáng tạo.

Dòng Phê Bình.

Mặc dù thực tế là phê bình văn học thường xuyên sử dụng nhiều "lý thuyết" khác nhau từ triết học, khoa học xã hội và tự nhiên cũng như các ngành học thuật khác kể từ cuối thế kỷ 19, các "trường phái" lý thuyết văn học được chính thức công nhận đã bắt đầu xuất hiện trong giới trí thức, các trường cao đẳng và các trường đại học ở Bắc Mỹ và Châu Âu vào giữa thế kỷ 20. Một số biến số xã hội và văn hóa đã góp phần vào sự phát triển của lý thuyết văn học trong thời kỳ này và sức hấp dẫn liên tục của nó trong các khoa văn học và nhân văn của các trường đại học Mỹ và châu Âu. Những yếu tố này đặc biệt bao gồm sự trỗi dậy của triết học hậu cấu trúc ở các trường đại học Mỹ và châu Âu; sự chấp nhận phân tâm học, chủ nghĩa Marx và các lý thuyết văn hóa xã hội khác trong cộng đồng trí thức; và sự xuất hiện của một hệ tư tưởng học thuật đa ngành và liên ngành.

Theo định nghĩa, “phê bình văn học” là quá trình phân tích và diễn giải văn học. Nhà phê bình văn học là người ủng hộ việc giải thích hoặc hiểu ý nghĩa cụ thể của tác phẩm văn học thay vì chỉ đánh giá giá trị hoặc chất lượng của một tác phẩm văn học. Công việc của nhà phê bình văn học là làm rõ và nỗ lực đạt được sự hiểu biết phê phán về những khẳng định và khuyến nghị của văn bản văn học trong các lĩnh vực thẩm mỹ, xã hội, chính trị và văn hóa. Một nhà phê bình văn học cố gắng đạt được sự hiểu biết hợp lý và hợp lý không chỉ về ý nghĩa của tác giả mà còn vượt ra ngoài việc thảo luận hoặc đánh giá tầm quan trọng của một văn bản văn học. (The Saylor Foundation. An Introduction to Literary Criticism and Theory.)

Phê Bình Và Phân Tích.

Phê bình văn học và phân tích văn học có nhiều phần tương tựa. Cả hai đều đặt nhiều câu hỏi tại sao về những chi tiết trong văn bản, chỉ khác một điều, khi trả lời, nhà phê bình được phép có nhiều ý kiến riêng, đánh giá riêng, trong khi nhà phân tích trình bày những suy xét và nỗ lực đi đến những kết luận khách quan.

Phê bình văn học phân chia ra một số phong trào cần được quan tâm:

-        Lý thuyết phản hồi của người đọc (Reader response theory) cho rằng, việc giải thích văn bản phụ thuộc vào cách người đọc giải thích nó, do đó bất kỳ phân tích nào về ý nghĩa của văn bản đều phải xem xét cách người đọc khác nhau sẽ phản ứng với nó như thế nào.

-        Phê  bình mới (New Criticism) xét rằng, các văn bản có ý nghĩa mà không cần tham khảo các nguồn bên ngoài. Vì vậy, mọi thắc mắc liên quan đến một văn bản đều có thể được giải quyết bằng cách xem xét cẩn thận các mối liên hệ giữa các phần khác nhau của nó.

-        Phê bình lịch sử, tiểu sử (Historical /biographical criticism) Nhà văn là sản phẩm của những trải nghiệm của họ, chịu ảnh hưởng lớn từ thế giới và những trải nghiệm đã định hình cuộc riêng. Do đó, bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến một văn bản nên được giải quyết bằng cách tham khảo các nguồn bên ngoài về tiểu sử của tác giả cũng như bối cảnh và xã hội mà tác giả đã sống hoặc đang sống.

-        Phê bình giới tính hoặc nữ quyền (Feminist or gender criticism) xem xét cách các nhân vật nam và nữ cư xử trong một câu chuyện, phân tích cách điều này phản ánh nền tảng văn hóa của tác giả và quan niệm của độc giả về giới tính có thể bị ảnh hưởng như thế nào. Kiểu phê bình này cũng xem xét những gì văn bản loại trừ; ví dụ, một nhà phê bình về giới tính sẽ xem xét lý do tại sao một cuốn tiểu thuyết lại chỉ bao gồm những người đàn ông kém cỏi.

Khoa tâm lý học ảnh hưởng sâu đậm trong quá trình sáng tác, vì vậy, cũng là quá trình tìm hiểu của phân tích và phê bình.

Phương pháp tâm lý (Psychological Approach.)

Cách tiếp cận tâm lý học là một trong những hình thức nghiên cứu văn học hiệu quả nhất trong thế kỷ XX. Được phát triển vào cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900 bởi Sigmund Freud (1856-1939) và những người theo ông, phê bình tâm lý đã đưa đến những ý tưởng mới về bản chất của quá trình sáng tạo, tâm trí của người nghệ sĩ và động lực của các nhân vật.

Những ý tưởng cơ bản của Freud rất cần thiết cho sự hiểu biết về văn học và phê bình hiện đại. Mặc dù các tác phẩm của Freud bao gồm nhiều tập phức tạp, nhưng có bốn ý tưởng chính có ảnh hưởng lớn đến mức khó có thể tin rằng chúng không phải lúc nào cũng ở bên chúng ta.

-        Vô thức (Unconscious) Theo Freud, con người không ý thức được mọi cảm xúc, thôi thúc, ham muốn của mình vì phần lớn đời sống tinh thần là vô thức. Freud so sánh tâm trí với một tảng băng trôi: chỉ có thể nhìn thấy được một phần nhỏ; phần còn lại nằm dưới sóng biển. Như vậy, tâm trí bao gồm một phần nhỏ có ý thức và một phần vô thức rộng lớn.

-        Quan sát sự ức chế (Repression Observing), qua sát tầng lớp trung lưu, thượng lưu bảo thủ vào cuối thế kỷ 19, Freud đi đến kết luận,  xã hội đòi hỏi sự kiềm chế, trật tự và sự tôn trọng, các cá nhân buộc phải ngăn chặn các động cơ dâm ô và hung hãn. Tuy nhiên, những ham muốn bị kìm nén này lại xuất hiện trong giấc mơ và trong nghệ thuật. Người nghệ sĩ và người mơ mộng đều là những người sáng tạo; cả hai đều có nhu cầu thể hiện bản thân bằng cách tạo ra những hình ảnh và câu chuyện đẹp đẽ hoặc đáng sợ. Nhưng dục vọng và sự hung hãn có thể không được thể hiện một cách trực tiếp. Điều này dẫn đến việc sử dụng các biểu tượng và ẩn ý trong giấc mơ và văn học.

-        Tâm lý ba bên (The Tripartite Psyche). Chúng ta biết điều này một cách tượng trưng là một bên là ác quỷ và bên kia là thiên thần. Freud đã phát triển lý thuyết phân tâm học của mình xung quanh ba nguyên tắc: bản ngã, bản năng và siêu ngã. Bản ngã có ý thức và đại diện cho bộ mặt mà chúng ta chia sẻ với thế giới. Phần tâm trí này tương tác với môi trường với người khác trong các tình huống xã hội. Là bản thân thức tỉnh có ý thức, bản ngã là hợp lý, lành mạnh và trưởng thành. Id là vô thức và bao gồm các động lực cơ bản của đói, khát, khoái cảm và hiếu chiến. Bản năng bị loại bỏ khỏi thực tế, tức là khỏi thế giới bên ngoài của xã hội và môi trường. Bản năng là tâm trí của trẻ sơ sinh, đòi hỏi sự hài lòng ngay lập tức, không có khả năng chịu đựng sự trì hoãn sự hài lòng làm cho cái tôi được xã hội chấp nhận. Lúc đầu, Freud cho rằng bản năng chỉ có một nguyên tắc duy nhất là nguyên tắc khoái cảm hay còn gọi là ham muốn tình dục hay ham muốn tình dục. Tuy nhiên, ông nhận thấy không thể giải thích sự gây hấn, bạo lực và tự hủy hoại bản thân mà không đưa ra nguyên tắc thứ hai, động lực gây hấn, còn được gọi là mong muốn được chết. Siêu ngã là phần cuối cùng của tâm lý ba bên. Đại diện cho thái độ đạo đức được cha mẹ truyền cho, siêu ngã có thể trông giống như lương tâm.

Cá nhân đạt được một cái tôi cân bằng, lành mạnh có khả năng giải quyết các nhu cầu về sự hài lòng tức thời vốn là một phần của bản năng với các yêu cầu tuân thủ các cấu trúc niềm tin phù hợp vốn là một phần của siêu tôi. Ngoài Freud ra, còn nhiều nhánh tâm lý khác cũng có hiệu quả ảnh hưởng đến văn học sáng tác và văn học phê bình. Từ các tâm lý gia như: Alfred Adler, Carl Rogers, Maslow, B.f. Skinner, Carl Jung, vân vân…

Lịch sử và tầm quan trọng của phê bình văn học hiện diện trong những bộ sách vài ngàn trang. Sự sơ lược này chỉ chủ đích trình bày vài chủ điểm đã được các tác giả trên bàn thảo.

Có lẽ, trong nền văn học nào cũng giống nhau trên một số đặc tính căn bản. Dòng phê bình văn học Việt chắc hẳn cũng có những đồng điểm này và những dị biệt do nền văn hóa khác biệt và cá tính con người. Điểm mà cá nhân tôi nhận thấy, dù chưa thể và không thể nào đọc được hết các bài phê bình, chắc chắn là thiếu sót, tuy nhiên với những gì tôi đã đọc, nhà văn Việt viết phê bình văn học nghiêng về chơi nhiều hơn chuyên, nhất là ở hải ngoại. Riêng tôi, tôi ủng hộ phân tích văn học hơn là phê bình văn học. Tôi nghĩ, phân tích và lý luận văn học là chủ yếu, Phân lý văn học là tên gọi, chúng ta cần hiểu biết văn học thế giới, văn học Việt Nam hơn là khen chê, thường khi, không cần thiết.
                                                                
Ngu Yên. 
 

Hãy tưởng tượng bạn có một đứa con đang ở Trung Đông, đang mặc quân phục Hoa Kỳ, tham dự cuộc chiến Iran do Tổng thống Donald Trump phát động. Mỗi sáng, bạn mở tin tức. Mỗi tối, bạn nhìn điện thoại. Bạn chờ một lời nhắn, một giọng nói, một dấu hiệu nhỏ nhoi rằng con mình vẫn còn sống. Bạn biết giữa hai lần điện thoại reo, biết bao nhiêu chuyện có thể xảy ra. Rồi một ngày, bạn nghe vị tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tuyên bố chính ông đã quyết định nới lỏng các biện pháp trừng phạt Nga, bất chấp đạo luật được Quốc Hội thông qua và chính ông đã ký ban hành. Bạn cũng biết chính quyền Vladimir Putin đang giúp Iran trong cuộc chiến chống lại những người lính Hoa Kỳ.
Nobel Văn Chương thường là giải thưởng cao quý nhất trên thế giới cho cả sự nghiệp văn chương của cho toàn bộ tác phẩm (hoặc tác phẩm tiêu biểu) đóng góp văn chương của tác giả. Mỗi năm, Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển thông báo hàng ngàn đề nghị ứng cử viên được gửi đi trên thế giới. Các đề cử tác giả phải được gửi đến Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển trước ngày 1 tháng 2, sau đó một ủy ban sẽ xem xét các đề cử kỹ lưỡng. Từ tháng 4, giới hạn số ứng cử xuống còn khoảng 20, đến mùa hè thì chỉ còn khoảng 5 tác giả nằm trong danh sách đề cử. Các tháng tiếp theo, viện sĩ của Viện bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm của những ứng cử viên cuối cùng… Giải thưởng thường công bố vào tháng 10.
Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.
Trong một tác phẩm cùng tựa đề, Nhà Văn Cung Tích Biền đã có lần từng ước muốn "Không nên có mặt". Tuy nhiên, như một định mệnh, ông vẫn sống, có mặt và phải chứng kiến đầy đủ mặn ngọt cuộc đời suốt hơn 90 năm như một chứng nhân của thời cuộc, của những thăng trầm, ly loạn của đất nước. Cuộc chiến Việt Nam từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp cho tới khi đất nước thống nhất mất 30 năm, thế mà ông văn nghiệp của ông đã kéo dài tới 65 năm. Có thể nói, ông là một nhà văn viết lâu, viết khoẻ và cũng là một chứng nhân giữa cuộc phong ba, khắc nghiệt của nước nhà. Bất kể bạn đồng ý hay không với những gì ông viết, bạn cứ đọc ông bạn sẽ hiểu rõ thân phận lạc loài của con người đứng giữa lằn ranh cuộc chiến. Bao nhiêu người bị chi phối trực hay gián tiếp trong cuộc tranh chấp máu lửa tương tàn, bị cắt đứt gốc rễ với quá khứ, không tìm thấy mục đích ở hiện tại và mơ hồ trước tương lai.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau? Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực.
Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì đó trở ra.
Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.