Hôm nay,  

Tháng Mười Nhớ Mẹ

25/10/202400:00:00(Xem: 2497)

thang muoi
Suốt cả tuần lễ của đầu tháng 10 vừa qua, trên trang nhất của tất cả những tờ báo quốc doanh đều xuất hiện một dòng chữ đỏ rất to, và rất đậm: CHÀO MỪNG 70 NĂM GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ!

Vietnamnet hớn hở chạy tin: “Đi bất kỳ đâu trên phố trung tâm Hà Nội những ngày này, người dân đều có thể thấy hình ảnh mang ý nghĩa lịch sử về ngày giải phóng Thủ đô cách đây tròn 70 năm trên các pano, áp phích cùng cờ hoa được trang trí rực rỡ… Khoảng 10.000 người có màn tập duyệt cuối cùng các phần diễu hành, trình diễn cho ‘Ngày hội Văn hóa vì hòa bình’ kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2024)”.
 
Ôi! Tưởng chuyện gì lạ, chớ cờ quạt, bích chương, pa nô, áp phích, băng rôn, biểu ngữ, khẩu hiệu (tuyên truyền) thì Hà Nội lúc nào mà không sẵn và ...dư! Hơn nữa, con số hàng chục ngàn người dân Hà Nội túa ra đường hoan hô vẫy chào đoàn quân chiến thắng (hồi bẩy mươi năm trước) là sự kiện hoàn toàn có thật – theo lời của những nhân chứng thế giá:

-         Ngày 10 tháng 10 năm 1954 đúng 10 giờ sáng, lực lượng Kháng Chiến trọng thể tiến vào Thủ Đô. Dẫn đầu là đoàn quân với những lá cờ tung bay với tiếng trống liên hồi. Những cán bộ đứng trên những chiếc xe tải vẫy tay chào đồng bào đứng đầy hai bên đường đang hô to những tiếng vui mừng, phất phất những lá cờ nhỏ. (Nguyễn Mạnh Tường. Un Excommunié – Hanoi 1954-1991: Procès d’un intellectual – Kẻ Bị Mất Phép Thông Công, Hà Nội 1954-1991: Bản Án Cho Một Trí Thức, bản dịch Nguyễn Quốc Vĩ).
 
-         Lại nói về ngày 10/10 lịch sử, cho đến 10 h sáng hôm đó thì cả Hà Nội là một ngày hội lớn. Năm cửa ô Hà Nội tưng bừng đón những đoàn quân chiến thắng trở về. Các nghệ sỹ đem cả đàn ra kéo, các chị mặc áo dài, các bà nhà giàu tung hoa tươi lên các đoàn xe trở các đoàn quân tiến vào thành phố… (Lê Phú Khải. Lời Ai Điếu. NXB  Người Việt: 2016).
 
Thiệt là vui hết biết luôn, và vui còn hơn Tết nữa. Niềm vui, tiếc thay, rất ngắn – theo lời của tác giả (và tác phẩm) vừa dẫn:

Ngày vui ngắn chẳng tày gang, không khí hồ hởi vui tươi sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau hòa bình lập lại 1954 ở Hà Nội cũng như toàn miền Bắc mau chóng nhường chỗ cho những ngày ảm đạm, u ám của những cuộc “đấu tranh giai cấp”, của cải cách ruộng đất, của cải tạo tư sản, đấu tố bọn “Nhân văn Giai phẩm.”

Một nửa nước được độc lập nhưng lòng người tan nát tài sản một đời chắt chiu của họ bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành những người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chẳng có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do, thì cái đầu cũng bị nhà nước trưng thu luôn.

Từ nay họ chỉ được nghĩ, được viết theo sự chỉ dẫn của một học thuyết, một đường lối nếu họ không muốn dẫm vào vết chân của nhóm “Nhân văn Giai phẩm”. Một dân tộc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ mà mặt người dân nám đen, mắt nhìn ngơ ngác, đi đứng lom rom như một kẻ bại trận.
Thảm vậy sao?
 
Ông nhà văn (e) có hơi quá lời chăng?
 
Cũng không quá (lắm) đâu!
 
Tác giả Nguyễn Văn Luận cũng đã từng tâm sự với nỗi buồn phiền tương tự:

Tết đầu tiên sau “tiếp quản”, còn được gọi là “sau hòa bình lập lại”, Hà Nội mơ hồ. Những bộ mặt vàng võ, áo quần nhầu nát, xám xịt, thái độ “ít cởi mở”, từ “nông thôn” kéo về tiếp quản chiếm nhà người Hà Nội di cư. Người Hà Nội ở lại bắt đầu hoang mang vì những tin dồn và “chỉ thị”: ăn Tết “đơn giản, tiết kiệm”. Hàng hóa hiếm dần, “hàng nội” thay cho “hàng ngoại”.

Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải “cung cấp” một năm theo “từng người trong hộ”. Mẹ may thêm chiếc quần “đi lao động” thì con nít cởi truồng…

Cha tôi làm chủ một hãng thầu tại Hải phòng trong khi gia đình vẫn ở Hà Nội. Khi người lính quốc gia cuối cùng rút sang bên kia bờ Bến Hải, cha tôi và gia đình kẹt lại do không hiểu gì về cộng sản và tài sản, cơ ngơi còn đó. 

Đỗ Mười về tiếp thu Hải phòng nói rằng các nhà tư sản vẫn được làm ăn bình thường. Một tháng sau, cha tôi bị tịch thu tài sản.  Trở về Hànội, trắng tay, cả nhà sống trong túp lều ở ngoại ô, cha tôi đi đánh giậm, vớt tôm tép trong các ao hồ, rau cháo nuôi vợ con. Đấu tố, cải tạo, chửi rủa, cha tôi ngày một tiều tụy hơn những người tiều tụy bị qui là tư sản còn lại trong thành phố.  Lời trăn trối khi cha tôi khi nằm xuống là “Cha đã bị lừa, con hãy tìm đường vào miền Nam tự do”. 


Câu hỏi đặt ra là sao có quá nhiều người “bị lừa” đến thế trong khi đã có hằng triệu người đã vội vã, hối hả, hốt hoảng và ùn ùn bỏ của chạy lấy người ngay trước mặt mình:

-         Những cuộc tháo chạy trong những hoàn cảnh thật cảm động và đau lòng, bởi vì Việt Minh đã vi phạm trắng trợn Hiệp định Geneva trong cố gắng chống lại Hiệp định ấy. Mới đầu họ còn thuyết phục khuyến dụ, sau đó dùng sức mạnh và nhiều người đã bị thương vì mảnh đạn của cộng sản. Người ta đã thấy hàng ngàn dân cả làng ùn ùn kéo nhau ra biển, đi tắt qua cánh đồng ruộng, tránh đi trên đường lộ bị kiểm soát bởi Việt Minh, rồi kết những bè mảng sơ sài đi ra biển với rất nhiều hiểm nghèo và chẳng có gì chắc chắn là sẽ được cứu vớt.

Hàng trăm người di cư đã chết trên biển. Người ta làm sao có bao giờ có thể tưởng tượng ra cảnh tượng gây ấn tượng như thế vào ngày 6/11 vừa qua, khi một đám đông gồm 2000 người tị nạn trên một cồn cát ở cửa Trà Lý chờ được các tầu các nước bạn đến vớt đi. (Tran Nam Bac. “Le drame des réfugiés catholiques vietnamiens, Agenzia. Internzionale Fides, n°12, 22 Janvier 1955. Bản dịch của Nguyễn Văn Lục).

-         Việc di cư ấy nói cho cùng chỉ là sự kéo dài tình trạng trốn chạy cộng sản mà không phải đợi đến Hiệp định Geneva, 1954. Ngay từ đầu thập niên 1950, phong trào tỵ nạn cộng sản đã thành hình dưới hình thức “phong trào nhập thành”, hay nói nôm na là phong trào “dinh tê”. Đã có bao nhiêu người tìm mọi cách dời bỏ khu “an toàn Phát Diệm”, thoát đi bằng đường biển, từ cửa Cồn Thoi, ra Hải Phòng vào những năm sau 1950?

Và đã có bao nhiêu người có tiền bạc của cải đã chạy trốn vào Nam khi mà Hiệp định Geneva chưa thành hình? Không phải theo Tây, cũng chẳng theo Mỹ, không theo Nhật, không theo Tầu cũng chẳng vì theo Thiên Chúa giáo mà người ta chọn đứng về phía này, phía nọ. Tất cả đều là những chọn lựa bất đắc dĩ chỉ vì không thể sống chung với người cộng sản được. Cộng sản trước đây và cộng sản bây giờ cũng vậy. (Nguyễn Văn Lục. “Nhìn Lại Cuộc Di Cư 1954 – 1955 II”. Đàn Chim Việt Online – 09/12/2023).

thang muoi 2
Lời khẳng định của G.S Nguyễn Văn Lục, không dưng, khiến tôi nhớ đến mẫu thân – một người VN quê mùa và thất học. Nói nào ngay thì bà cũng biết đọc biết viết (sơ sơ) nhưng tôi chưa thấy mẹ cầm cây bút lần nào và có lẽ cũng không bao giờ đọc sách báo gì ráo trọi, ngoài vài ba cuốn kinh (Phật) đã rách bìa long gáy từ lâu.

Vậy chớ khi mà tiến sỹ Nguyễn Mạnh Tường, thạc sỹ Trần Đức Thảo, kỹ sư Võ Quí Hân, giáo sư Trần Đại Nghĩa …  lật đật vội vàng rời nước Pháp để về VN để phục vụ cho cuộc Cách Mạng Vô Sản VN (theo lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh) thì bà cuống cuồng bồng bế mấy đứa con thơ bỏ chạy một mạch vô Nam. May mắn là gia đình chúng tôi chạy thoát. Tuy không thoát luôn nhưng cũng được khá lâu: 1954 – 1975.

Hơn hai chục năm trời. Khoảng thời gian đủ dài để tôi được sống hết cả tuổi thơ và tuổi trẻ trong một vùng đất tương đối an bình, phú túc.  Mẹ tôi hoàn toàn không có khái niệm chi về học vấn, học đường, hay giáo dục. Vốn chữ nghĩa lại vô cùng giới hạn nên bà rất kiệm lời.

Suốt đời bà chỉ biết “giáo huấn” các con bằng đôi câu ngăn ngắn, giản dị và vô cùng dễ hiểu:

-         Đừng bao giờ tin bọn cộng sản, và chớ khi nào dây dưa gì với chúng nó nghe chưa.
-         Dạ mẹ!

Tôi luôn “dạ” ngọt như đường cát (mát như đường phèn) nên chắc hẳn là mẹ hiền phải hết sức hài lòng, và an tâm, ngay cả khi đã bước qua bên kia thế giới.

Khi âm dương chưa cách trở – có lần – từ bên này bờ đại dương xa thẳm, tôi đã đọc cho bà nghe đôi câu thơ của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện:

Thế lực đỏ phải đồng tâm đập nát
Để nó hoành hành, họa lớn sẽ lan nhanh
Đó là lần duy nhất trong đời mà tôi nghe mẹ cười, qua điện thoại. Sao tự nhiên mà nhớ cái tiếng cười (khanh khách) của má quá, má ơi!

Trong chuyện ái ân của loài nhện lưng đỏ Úc Châu, con đực có một màn biểu diễn nghe như chuyện đùa: đang giao phối, nó bất thần lộn ngược người, đưa bụng mình thẳng vào đôi nanh của con cái — gần như mời bạn tình ăn thịt mình. Nhưng con nhện đực chưa hẳn muốn chết ngay.
Vài năm nay, chuyện mua sắm không còn hào hứng lắm đối với đàn bà chúng tôi. Ít nhất, đối với riêng tôi, ‘cảm hứng’ đã giảm đi một nửa. Vào các cửa tiệm hay các trang mạng thời trang, ta thấy gì? Toàn một màu xám ngắt! Quần áo cho giới trung niên thỉnh thoảng có màu sắc nhẹ nhàng: vàng nhạt, xanh nhạt. Nhưng nói chung, những chiếc áo đầm bông hoa rực rỡ không còn dám lộ mặt, ra tên. Còn áo len đỏ, cam, xanh lá non? Chỉ xuất hiện để một sớm một chiều đi vào góc on sale/giảm giá.
Theo Viện Nghiên Cứu Chính Sách Kinh Tế Stanford (Stanford Institute for Economic Policy Research) thị trường việc làm tại Hoa Kỳ đã hạ nhiệt đáng kể và lâm vào tình trạng suy yếu. Cục Thống Kê Lao Động (US Bureau of Labor Statistics - BLS) báo cáo rằng trong tháng 7 vừa qua nền kinh tế Hoa Kỳ đã mất 23,000 việc làm ngoài dự đoán.
Tôi nghiệm ra rằng cảm xúc trong tình yêu không mất đi đâu cả, nó vẫn nằm nguyên trong tiềm thức. Đạo Phật gọi đó là A Lại Gia Thức, nơi lưu trữ tất cả những gì một người đã từng nghĩ suy, đã nói ra thành lời, hay đã hành động có chủ đích. Yêu là cảm xúc, cũng được lưu lại trong tâm thức.
Nếu bình tĩnh nhìn lại, có lẽ điều đáng chú ý nhất không nằm ở chỗ câu nói này có khả thi hay không, vì rõ ràng là không, mà nằm ở chỗ nó được nói ra một cách rất tự nhiên, như thể đang kể chuyện mua thêm một miếng đất sau vườn. Không có văn bản pháp lý, không có lộ trình ngoại giao, không có gì ngoài một câu nói được thả ra giữa bài diễn văn về tội phạm đường phố, rồi lập tức chuyển sang chuyện Venezuela và giá dầu.
Nhìn từ bên ngoài, lối vào hầm trú ẩn Sonnenberg ở thành phố Lucerne chẳng có gì đáng sợ. Nó nằm ngay giữa một sân chơi trẻ em, bên cạnh xích đu và những tấm ván nhún ngoài trời. Nhưng phía sau cánh cửa dày có thể chịu được sức nổ là một đường hầm sáng đèn chạy sâu vào lòng núi, dẫn tới một công trình khổng lồ được xây từ thập niên 1970 để chứa tới 20,000 người nếu chiến tranh nguyên tử xảy ra. “Thời ấy, 20,000 người bằng khoảng một phần ba dân số Lucerne,” Zora Schelbert, người hướng dẫn tại Sonnenberg, nói. “Nghĩa là cứ ba người trong thành phố thì có một người được dự tính sẽ xuống đây trú ẩn.”
Khi Tổng Thống Donald Trump bí mật rời chuyên cơ Air Force One (AF1) bằng cách “núp” trong thùng của xe chở thực phẩm phục vụ trên phi cơ, rồi lên một phi cơ khác để tránh nguy cơ bị ám sát tại Thổ Nhĩ Kỳ, ông đã chọn ba trợ lý trung thành và gắn bó lâu năm nhất. Không một quan chức nào thuộc Nội Các có trong danh sách. Theo một quan chức Mỹ am hiểu về chiến dịch này cùng các tài liệu xác thực mà tờ The Post đã xem xét, ba người đó là ông Dan Scavino, phó chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc, ông Walt Nauta, giám đốc phụ trách hoạt động tại Phòng Bầu Dục và cuối cùng là cô gái tóc vàng Natalie Harp trợ lý điều hành của ông Trump – người luôn được nhìn thấy xuất hiện cạnh tổng thống bất cứ nơi nào ông đến.
Nhiều nhà nghiên cứu đề nghị Hoa Kỳ lập những chương trình kiểm soát bọ ve tương tự các chương trình diệt muỗi do chính quyền địa phương thực hiện từ hơn một thế kỷ qua. Bệnh do bọ ve truyền hiện gây bệnh cho nhiều người Mỹ hơn các bệnh do muỗi truyền, nhưng ngân khoản nghiên cứu và phòng ngừa vẫn còn hạn chế. Sự lan rộng của bọ ve có liên hệ chặt chẽ với những thay đổi trong môi trường. Vào thời kỳ đầu lập quốc, nhiều khu rừng bị khai phá làm nông trại, còn nai đuôi trắng bị săn đến gần tuyệt chủng. Bọ ve vì thế mất nơi trú ngụ và thiếu con vật chủ để hút máu, nên ít có cơ hội sinh sôi và truyền bệnh sang người.
Từ hơn ba thập niên qua, cuộc tìm kiếm những hành tinh bên ngoài Thái Dương Hệ vẫn là một trong những công cuộc lớn nhất của thiên văn học. Ngoại hành tinh đầu tiên được xác nhận vào năm 1992, xoay quanh một ngôi sao neutron cách Trái Đất khoảng 2,300 năm ánh sáng. Từ đó đến nay, nhờ các viễn-vọng-kính đặt trên không-gian và trên mặt đất, giới thiên-văn đã tìm ra hơn 6.200 ngoại-hành-tinh rải rác trên bầu trời, đưa đến kết-luận rằng hầu như mỗi vì sao đang tồn-tại đều có ít nhất một hành-tinh quay quanh nó.
Phẫu thuật tháo túi ngực đang trở thành một hiện tượng đáng chú ý tại Hoa Kỳ. Số phụ nữ đi tháo túi ngực tăng nhanh trong vài năm gần đây. Những lo ngại về sức khỏe – đặc biệt “bệnh do túi ngực (breast implant illness)” – là lý do dễ thấy. Nhưng phía sau con số còn là một chuyển động sâu hơn: cách xã hội Mỹ nhìn địa vị, thời trang và vòng ngực đang đổi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.