Hôm nay,  

Stanley Kunitz, Nghệ Thuật Kể Chuyện

27/12/202400:00:00(Xem: 2767)
 
Stanley
Stanley Kunitz
 
Chúng ta kể chuyện để làm gì?

Chúng ta kể chuyện để mua vui trong chốc lát, quên đi sự đau khổ nơi trần thế, đi tìm suối nguồn ẩn mật kia và sau đó tìm cách trở lại. Chúng ta kể chuyện để phục hồi những gì đã mất, đã bị đánh cắp, đã bị ngọn lửa hận thù chiến tranh thiêu cháy rụi. Chúng ta kể chuyện để làm nên lịch sử của tình yêu. Để vượt qua sự phản bội và đương đầu với sự thất vọng nơi người khác, kẻ mà chúng ta từng ngây thơ kỳ vọng. Để một đêm nhìn lên bầu trời, nơi sao chổi Halley đi ngang qua trái đất trong những thời điểm cách nhau bảy mươi lăm năm, khi người ta có thể nhìn thấy, nhưng nó chưa bao giờ quét đuôi vào trái đất.

Ngày 19 tháng 5 năm 1910, khi Stanley Kunitz lên năm tuổi, ngôi sao Harley đã đến thăm.

Nó trở lại một lần nữa vào năm 1986, khi ông tám mươi mốt tuổi; ngôi sao này gợi ra nhiều ký ức ở Stanley Kunitz, người viết bài thơ dưới đây chín năm sau đó, năm 1995.

Các nhà khoa học tiên đoán nếu Halley đi chệch khỏi quỹ đạo, sẽ va chạm với trái đất và tất cả chúng ta sẽ thành tro bụi. Nhà thơ viết bài thơ lúc ông chín mươi tuổi, nhưng giọng điệu trong bài thơ là giọng của một đứa trẻ mới lên năm tuổi.
 
SAO CHỔI HALLEY*
 
Cô Murph dạy lớp Một
nắn nót viết bằng phấn trắng
lên bảng đen, tên nó, bảo chúng tôi
nó đang gầm rú trên đường bay bão tố
của Ngân hà với tốc độ kinh người
nếu nó rơi ra ngoài quỹ đạo
và lao thẳng vào trái đất
sẽ không có lớp Một ngày mai.
 
Một nhà thuyết giáo với bộ râu dài
và đỏ, đến từ ngọn đồi
tia mắt ngời ngời hoang dã
đứng ngay giữa quảng trường gần sân chơi
tuyên bố ông được gửi tới bởi đức Chúa trời
để cứu rỗi chúng ta
kể cả bọn trẻ nhóc
"Hãy sám hối, hỡi những tên ngốc tội lỗi!" ông hét tướng lên
và vẫy cái bảng viết tay.
Trong bữa ăn tối hôm ấy, lòng tôi thật buồn khi nghĩ
rằng có lẽ
đó sẽ là bữa ăn cuối cùng, tôi được cùng ăn
với mẹ, các chị tôi;
nhưng rồi tôi cảm thấy phấn khích
đến nỗi không thích chạm vào đĩa thức ăn.
Thế là mẹ tôi mắng cho
Và bắt tôi về phòng.
 
Khi cả nhà đi ngủ xong
trừ tôi ra. Họ không bao giờ biết
tôi lén lút leo nhiều bậc thang
đến với không gian trong lành ban đêm.
Con ở đây này, Cha ơi cha, con ở trên mái nhà này
tòa nhà xây gạch đỏ
dưới chân Phố xanh đó
là nơi chúng ta sống, cha biết đấy, trên tầng cao nhất.
Con là thằng bé đêm mặc áo dài trắng
bò lom khom trên giường sỏi đá
lặng lẽ đi tìm giữa bầu trời đầy sao
chờ cho mau tới ngày tận thế.
 
 
Tôi để ý cách bắt đầu: không phải là lối nhập đề thường gặp ở người lớn, ở các bài văn mô tả, không rào đón trước sau, lối nói trực tiếp, thản nhiên, hình ảnh, của con trẻ.

Cô Murphy dạy lớp Một
Suốt đời mình, Kunitz lúc nào cũng trẻ thơ.
Các tài năng đều thế.
Tôi chưa được gặp ông bao giờ, nhưng thường ngắm các bức ảnh của ông, khuôn mặt của một người lớn tuổi, đầy vết nhăn thời gian, ẩn chứa sự thông thái giản dị, nhưng đằng sau lấp lánh ánh mắt đứa trẻ, thông minh, tinh nghịch, sớm am hiểu việc đời.

Kunitz chưa bao giờ được nhìn thấy cha mình. Khi mẹ ông mang thai ông thì cha ông qua đời, một cái chết bằng cách tự treo cổ.

Ông chưa bao giờ nguôi ngoai và lúc nào cũng tìm cách đến gần người cha đã mất. Trong nguyên tác, chữ father được viết hoa Father, có thể dùng để gọi Đức Chúa Trời, nhưng cũng có thể dùng để gọi người cha thật của mình.

Về hình thức, đây là bài thơ tự do, nhưng có một vần điệu bên trong với các câu thơ có độ dài gần bằng nhau, và lối kể chuyện tự nhiên, điềm tĩnh, dí dỏm, đầy tính hoạt động. Những dòng chữ bởi cô giáo viết bằng phấn trắng trên bảng đen: gợi ý hình ảnh của những vệt sao chổi lấp lóa trên bầu trời đen, sẽ xuất hiện một lần nữa, ở cuối bài.

Tìm kiếm giữa bầu trời đầy sao
Nếu ngôi sao quệt vào trái đất, làm nó tan ra tro bụi, nhà trường sẽ cho các em nghỉ học ngày mai.
Đó chẳng phải là một ý tưởng hài hước sao? Nhưng lại rất trẻ con, những ý tưởng có thật.

Hình ảnh của cô giáo Murphy được nối tiếp bởi hình ảnh của một nhà truyền giáo đến từ đâu đó. Sự đe dọa, cảm giác khủng khiếp, sự nghi ngờ, sự mê tín, nỗi âu lo được diễn tả bằng sự gầm rú tưởng tượng của ngôi sao chổi, tốc độ khủng khiếp, sự va chạm. Cảm giác sợ hãi ấy lồng vào sự im lặng buồn bã của bữa ăn tối. Như một đứa trẻ, sự sợ hãi ấy còn kích hoạt cảm giác hưng phấn, khoái chí, kích thích, tò mò.

Đó là điều gì vậy?
Cái gì đang xảy ra trước ngày tận thế?
Đó là ao ước được thay đổi số phận.

Một đứa bé muốn thay đổi cuộc đời mồ côi của mình. Cũng như một nhân dân muốn thay đổi số phận nô lệ của mình.
Đến gần cuối bài các động từ trong nguyên tác chuyển từ quá khứ sang hiện tại.

Khi cả nhà đi ngủ xong
là ở vào thì hiện tại. Mọi sự đang chuyển động, không phải chỉ là sự kể lại, là hồi ức, mà cái đang là. Đứa bé ra khỏi căn nhà của mình, gia đình của mình, hoàn cảnh của mình, hoàn cảnh của một đứa bé trai không có cha, cha chết vì thắt cổ tự vẫn, sống với mẹ và các em gái, đứa con trai duy nhất trong gia đình, bối rối và phiền muộn vì quá khứ, ám ảnh suốt đời vì sự vắng mặt của người cha, giờ đây chú bé lẩn lút ra khỏi ngôi nhà, leo lên mái, lên cái thang một mình trong đêm tối, bò lặng lẽ trên mái nhà thô ráp như lợp bằng sỏi đá.

Đứa bé thoát ra khỏi sự an toàn và êm ấm đầy buồn rầu của gia đình, để tới một thế giới khác, hiểm nghèo, vô tận và hấp dẫn.
Như đời sống. Như tình yêu.
Mẹ của Kunitz không bao giờ tha thứ cho chồng mình về việc đã tự vẫn khi bà đang mang thai đứa con trai út và vì vậy tìm mọi cách xóa bỏ hình ảnh về ông ra khỏi trí nhớ của bà và các con.
Bạn hình dung thấy một đứa trẻ lên năm tuổi đứng một mình trong đêm tối, trên mái nhà, dưới bầu trời đầy sao, ngước mắt nhìn lên và cất tiếng gọi cha mình.
Con ở đây này, Cha ơi cha, con ở trên mái nhà này
Bạn nhắm mắt lại. Đôi khi, nước mắt bạn ứa ra. Cái gì vậy?

 Thằng bé cẩn thận, còn nói rõ gia đình mình đã chuyển tới ở nơi tầng cao nhất của tòa nhà gạch đỏ, ở phố Xanh, hơn thế nữa chú ta còn mô tả về mình cho thật rõ:

con là thằng bé mặc chiếc áo dài trắng
bò lom khom trên chiếc giường sỏi đá
ngước mặt nhìn lên bầu trời đầy sao
 
Hình ảnh của đứa bé ấy, từ trong ký ức của nhà thơ, vĩnh viễn nằm lại trong ký ức ấy, như thể đó là dấu hiệu đã một lần được gửi đi từ mặt đất vào vũ trụ bằng các phương pháp du hành không gian.


Đó cũng là dấu hiệu gửi vào chiều bất tận của thời gian, của sự mất mát, của tình cha con, sự thương thân, một điều gì tôi không thể dễ dàng gọi tên ra được. Cảm giác chờ ngày tận thế không làm tăng lên hay giảm đi sức mạnh của thông điệp, nhưng nó gây ấn tượng mạnh ở người đọc, gợi lên cảm giác mơ hồ, sự lẫn lộn, sự không thể hiểu trước tồn tại.

Thơ trữ tình ngày nay có nhiều biến đổi, và tích hợp vào nó các yếu tố của câu chuyện kể. Vì sao chúng ta quan tâm tới những bài thơ gây tác động lên người đọc?

Vì chúng tạo ra những trải nghiệm của con người. Kể chuyện, hát lên, biểu đạt các xúc cảm bên trong của chúng ta làm cho vết thương chóng lành, làm cho con người được chuyển hóa về phía cao cả hơn. Như vậy biểu đạt trong thơ là một nhu cầu tự nhiên, nhưng hàm chứa một mục đích là chuyển con người về phía hàn gắn, sửa chữa, nâng cao, tái hợp, và cuối cùng, tự do. Thơ trữ tình giúp một nhà thơ và người đọc của anh ta nhận ra rằng việc biến những kinh nghiệm cá nhân thành ngôn từ vừa là niềm vui thú vừa giúp ích cho họ. Vào lúc một nhà thơ tập hợp lại các chữ của mình, đặt chúng vào một trật tự thích hợp, vào câu chuyện kể lớp lang, dù ngắn gọn do sức chứa hạn hẹp của bài thơ, vào lúc một người đọc nhận ra được trật tự đẹp đẽ ấy, thưởng thức và cảm kích nó, vào lúc ấy họ đặt mình vào một tình trạng trong sáng ngược lại với sự lú lẫn mà một xã hội thiếu tự do thường xuyên áp đặt lên họ. Bài thơ sử dụng một ngôn ngữ chân phương, trung tính, không có nhiều chữ mô tả các cảm xúc, trừ câu thơ có chữ Father, nhưng chỉ một chữ ngắn gọn. Đây là một đặc điểm thi pháp của Kunitz.

Cấu trúc luận chỉ ra rằng phương cách mà chúng ta cảm nhận thế giới và sắp xếp các kinh nghiệm riêng tạo ra các ý nghĩa. Hiện hữu là hiện hữu thông qua các mối quan hệ. Ý nghĩa không phải ở bên trong các sự vật mà chúng ở bên ngoài chúng, được ban cho ở tâm trí con người. Đa nghĩa là một khám phá sâu sắc của cấu trúc luận, cho phép một văn bản có thể được diễn dịch dưới nhiều khía cạnh. Tuy vậy, tôi nghĩ, một hoàn cảnh đặc biệt như của Kunitz không thể tách rời văn bản. Tiểu sử riêng của nhà thơ, cái chết của cha ông, câu chuyện dường như có thật của cậu bé lên năm tuổi, sự kiện thiên văn học về ngôi sao chổi Halley, những điều ấy tạo nên ngữ cảnh, góp phần tạo nên xúc cảm ở người đọc.

Ngôi sao chổi Halley được nhìn thấy rõ vào năm 1910, nhìn thấy mờ hơn vào năm 1986, hay đó chính là hình ảnh của người cha đã mất, kẻ bị phá sản và kết thúc cuộc đời trước khi Kunitz sinh ra?

Đôi khi nhà thơ Kunitz tâm sự: quan niệm đầu tiên của tôi là quan niệm về cái chết. Cần chú ý phân biệt giữa tác giả cũng là người kể chuyện và nhân vật trong bài thơ ấy, một chú bé, cũng là tác giả.

I’m the boy
Vừa là câu nói dành cho cha mình vừa là cách giới thiệu với độc giả, tôi là chú bé ngày xưa ấy.

Trong một bài thơ không dài lắm, các câu thơ đều đầy các chi tiết cần thiết. Chúng ta để ý, ví dụ:
kể cả những đứa trẻ nhóc

Tại sao lại kể cả những đứa trẻ? Vì người thuyết giáo cũng muốn cả bọn trẻ tham gia cầu nguyện như người lớn và cảm giác ấy làm cho nhân vật trong bài thơ liên hệ sâu xa hơn với các sự kiện quanh mình. Có một niềm tin ở nhiều người, ở các tôn giáo, rằng sau cái chết, bạn gặp lại những người thân yêu của mình.

Đời sống của chúng ta trên trái đất cũng là thời thơ ấu, ở đó chúng ta cần chuẩn bị cho cuộc đời sau. Tại sao người cha không xuất hiện trong bài thơ của Kunitz? Tại sao Đức Chúa Trời không xuất hiện để cứu lấy con mình, Chúa Jesu trên thánh giá?

Bài thơ sao chổi là bài thơ về một đứa trẻ học lớp một ở thành phố, khung cảnh của một thành phố. Mặc dù vậy, cần nhớ rằng Kunitz thường viết về thiên nhiên làng quê, vườn tược, những nơi mà thời thơ ấu ông đã từng sống qua và khi về già ông trở lại.

Chú bé trong bài thơ đã đủ khôn lớn để ý thức về hiện tượng vũ trụ, về cái chết, về hoàn cảnh bất hạnh của mình, nhưng chưa đủ khôn lớn để giải thích sự vật. Con người càng lớn lên, càng hiểu biết, hiểu biết về vũ trụ và hiểu biết về lòng người, càng thấy buồn, càng chua chát, càng thất vọng. Bạn có bao giờ thất vọng về người khác? Những người thân yêu nhất?

Tôi tin là có. Thế bạn làm gì?

Ngôi sao sau vài mươi năm lại trở về với trái đất, đứa bé trên mái nhà kia sau vài mươi năm lại trở về với chúng ta, nhắc nhở con người về sự tạm thời của đời sống, nhịp tuần hoàn vĩnh viễn của vũ trụ, sự trường tồn của mất mát, và mất mát như một cảm xúc, như một bằng chứng của tình yêu và lòng ao ước được tái hợp trong nhau.

Khi được giới thiệu vào năm 1960, trong những tác phẩm về hậu cấu trúc, khái niệm liên văn bản được định nghĩa và mở rộng, với các công trình của Kristeva và Vatsdin. Đọc bài thơ của Stanley Kunitz tức là vừa đọc văn bản của nó và những câu chuyện đằng sau bài thơ, về một cậu bé mồ côi cha, về ngôi sao chổi có thật; tất cả những vấn đề ấy hẳn nhiên dẫn tới khái niệm liên văn bản và những vấn đề của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Sao chổi Halley sẽ trở lại thăm trái đất của chúng ta lần nữa, năm 2061. Bạn còn ở đó không, vào năm 2061?
 
Nguyễn Đức Tùng
 
* HALLEY’S COMET
Miss Murphym in first grade
wrote its name in chalk
across the board and told us
it was roaring down the stormtracks
of the Milky Way at frightful speed
and if it wandered off its course
and smashed into the earth
there'd be no school tomorrow.
A red-bearded preacher from the hills
with a wild look in his eyes
stood in the public square
at the playground's edge
proclaiming he was sent by God
to save every one of us,
even the little children.
"Repent, ye sinners!" he shouted,
waving his hand-lettered sign.

At supper I felt sad to think
that it was probably
the last meal I'd share
with my mother and my sisters;
but I felt excited too
and scarcely touched my plate.
So mother scolded me
and sent me early to my room.
The whole family's asleep
except for me. They never heard me steal
into the stairwell hall and climb
the ladder to the fresh night air.

Look for me, Father, on the roof
of the red brick building
at the foot of Green Street—
that's where we live, you know, on the top floor.
I'm the boy in the white flannel gown
sprawled on this coarse gravel bed
searching the starry sky,
waiting for the world to end.
  

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.