Hôm nay,  

“Chăn lái giao duyên”

1/24/202500:00:00(View: 3178)
giao duyen
WASHINGTON, DC: Những chiếc ghim Donald Trump được bày bán tại I Love DC Gifts trước Lễ nhậm chức. Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump và cựu Thượng nghị sĩ đắc cử Phó Tổng thống JD Vance (R-OH) tuyên thệ nhậm chức vào ngày 20 tháng 1. (Ảnh của Kayla Bartkowski/Getty Images)
 
Nếu chúng ta, trong thị trường giải trí, từng một thời ướt át “tân cổ giao duyên” thì bây giờ người Mỹ, trong “thị trường chính trị”, như là biến thể mới nhất của nền chính trị quốc gia, đang khô khốc với sát khí “chăn lái giao duyên”. Nước Mỹ của thế kỷ 21, xem ra, đang đối mặt với nguy cơ tụt lùi về thế kỷ 19 của chủ nghĩa tư bản hoang dã và chủ nghĩa thực dân. 
 
Nhưng “chăn lái” chỉ là cách nói cho thuận tai và thuận miệng vậy thôi, để chính xác thì phải “cao bồi – môi giới địa ốc” hay, Anh–Việt đề huề một chút, là “cowboydealer giao duyên”. Đó là sự lai tạo giữa mẫu người chẳng biết pháp luật là gì với hạng môi giới “lợi nhuận biện minh cho phương tiện” mà người đời, một lần va chạm, là một lần nghiến răng tự nhắc nhở mình phải dè sẻn lòng tin. 
 
Hình tượng người chăn bò cowboy có trở thành thần tượng của giới trẻ là do Hollywood thì cũng chính kỹ nghệ điện ảnh này, qua tuyệt tác cao bồi về chiều Unforgiven, đoạt bốn giải Oscar 1992, đã đập tan huyền thoại khi cho thấy người hùng cũng bệ rạc, cũng tham lam, cũng độc ác và tồi tệ. Còn giới dealer chưa bao giờ được nâng thành huyền thoại thì, từ đầu tới cuối, luôn bị cảnh giác, dè chừng: nếu cha ông chúng ta mỉa mai “Thật thà như thể lái trâu” thì người Mỹ cũng vậy với hình tượng “honest dealer”/ 
 
Nhưng bây giờ thì hai thứ, ở tầm vóc cao nhất, đang “giao duyên” với nhau. Một dealer nhà nghề, trong vai trò quyền lực nhất thế giới, đã dẫm lên những quy tắc đạo đức lẫn pháp luật khi ngang nhiên hù dọa các quốc gia khác như thể một tay cao bồi miền viễn Tây hù dọa những bồi bàn quán rượu. Như một tên “chăn”, y đòi sáp nhập Canada và y nhạo báng nhà lãnh đạo mà nhân dân đất nước này bầu lên như là hạng “thống đốc” dưới quyền mình. Như một tên “lái”, y đòi sở hữu kênh đào Panama, đòi mua lại Greenland. Chỉ mới là khúc dạo đầu khi chưa chính thức nắm quyền mà đã thế thì, sau này, chính sách ngoại giao của y còn cao bồi đến đâu? 
 
Nước Mỹ những năm qua, trừ cái giai đoạn kỳ quái mà mỗi thông báo quốc gia là một tin nhắn giật gân nhằm câu “like” trên mạng Twitter, vẫn chưa hẳn hoàn hảo nhưng ít ra vẫn đủ để nhiều người hay quốc gia hướng về, như chúng ta từng như thế khi liều chết băng biển tìm tự do, hay như Ukraine từng gởi gắm niềm tin khi bị Nga xâm lược. Và để được như thế thì nước Mỹ đã trải qua bao nhiêu bước tự hoàn thiện lấy mình. Hoàn thiện để bước qua thời kỳ “tư bản hoang dã” với những biện pháp tiết chế, từ đạo luật “Anti Trust” ngăn chặn độc quyền đến những biện pháp bảo vệ môi sinh, bảo vệ quyền lợi của nhân công. Hoàn thiện bằng cách bãi bỏ chế độ nô lệ, bãi bỏ sự kỳ thị với những xe bus, nhà hàng, trường học không cho người da đen thò chân v.v. Nhưng bây giờ thì đất nước này đang đối mặt với nguy cơ thụt lùi mà, để hiểu, cần phải nhìn lại những thứ mà đã từng rũ bỏ trên khía cạnh ngoại giao. 
 
Đầu tiên là Học thuyết Monroe, do James Monroe – Tổng thống thứ năm (1817- 1825) -- công bố trước Quốc Hội ngày 2/12/1823 với ba yếu tố chính: thứ nhất, chấm dứt việc mở mang thuộc địa của Âu Châu tại Châu Mỹ La-Tinh; thứ hai, chính trị Mỹ sẽ tách rời nghị trình Châu Âu; thứ ba, Âu Châu không có quyền can thiệp vào Châu Mỹ. Nói cho gọn thì “Mỹ Châu là của người Mỹ” nhưng bởi Mỹ vẫn chưa đạt đến tư thế vượt trội nên Monroe đành phải công nhận những thuộc điạ cũ của Âu Châu, chỉ đòi hỏi rằng tiến trình khai thác thuộc địa phải chấm dứt, những phần đất bỏ ngõ phải là của Mỹ.
 
Gần ba phần tư thế kỷ sau đó thì Venezuela lại bám vào học thuyết này khi tranh chấp với Anh. Đang nắm giữ thuộc địa Guiana, năm 1895 Anh tranh giành khu vực Essequibo có nhiều mỏ vàng với láng giềng Venezuela nên bị Venezuela la lối là xâm phạm học thuyết ngoại giao Mỹ. Diễn biến này đã thổi bùng “chủ nghĩa quốc gia” mang màu sắc đế quốc tại Mỹ, thúc đẩy việc gia tăng sức mạnh quân sự để bảo đảm lợi ích của mình và, vậy là, từ thời Grover Cleveland – Tổng thống thứ 22 (1885-1889) và thứ 24 (1893-1897) -- ngân sách quân sự được gia tăng đáng kể, nhất là với hải quân. Đến thời Theodore Rooselvelt -- Tổng thống thứ 26 (1901-1909) – thì Mỹ đã xây dựng một hạm đội hùng mạnh và tỏ ra quyết đoán hơn, thậm chí, chỉ trong vòng mấy chục tiếng đồng hồ, có thể tạo nên một quốc gia mới.
 
Đó là Panama, vốn thuộc về lãnh thổ Colombia. Năm 1903 Mỹ đề nghị mua đứt khu vực có con kênh với giá 10 triệu đô la nhưng Colombia bác bỏ. Nổi cáu, ông Rooselvelt ra lệnh sách động phong trào ly khai tại Panama và chọn ông Manuel Amador, một chính khách địa phương. Ngày 17/10/1903, Amador cùng nhiều “nhà ly khai” khác đến Mỹ nhằm sắp đặt cuộc “cách mạng” chống lại “ách thống trị” Colombia và, chỉ một ngày sau, “hiến pháp”, “quốc kỳ” và “đại sứ” của Panama đã sẵn sàng trên đất Mỹ. Bunau-Varilla, một kỹ sư Pháp từng làm việc cho công ty kênh đào Panama, được bổ nhiệm làm Đại sứ Panama tại Mỹ và, do đó, trở thành vị đại sứ kỳ quái nhất trong lịch sử nhân loại: quốc gia ông ta đại diện vẫn chưa ra đời còn ông ta thì chưa bao giờ được phép thường trú tại phần đất này.
 
Hai tuần sau, 3/11/1903, bằng tài trợ Mỹ, phong trào ly khai Panama đã mua chuộc toàn bộ lực lượng an ninh địa phương rồi, chờ khi các chiến hạm Mỹ tiến vào cảng Colon, họ mới công bố “tuyên ngôn độc lập”. Ngày 6/11/1903 Mỹ tuyên bố công nhận tân quốc gia và ngay hôm sau, phái đoàn của tân chính phủ đã lên đường sang Mỹ nhằm thương thảo về thoả ước kênh đào. Tuy nhiên, khi phái đoàn đến Washington D.C bằng đường hoả xa vào lúc 11.30 ngày 18/11, hiệp ước đã được viên đại sứ ký trước đó mấy tiếng đồng hồ! 
 
Giai đoạn này Châu Mỹ La-Tinh rối lên với tình trạng vỡ nợ bởi nhiều quốc gia không gánh nổi những khoản vay lãi suất cao từ Âu Châu, dẫn đến tệ đưa tàu chiến đến đòi nợ. Lo sợ trước việc này, ông Luis M. Drago, Ngoại trưởng Argentina, vận động một điều ước quốc tế nhằm ngăn cản nhưng, do biết trước, ngày 3/12/1902 Tổng thống Rooselvelt tuyên bố Mỹ sẽ không can thiệp nếu những chủ nợ Âu Châu không có ý định ở lỳ. 
 
Nhưng Venezuela lại làm Mỹ thay đổi. Đầu tiên là việc nhà độc tài Cipriano Castro thách thức Âu Châu khi đơn phương xoá nợ hay chiếm hữu tài sản ngoại quốc và theo các sử gia thì Castro vẫn sợ tàu chiến Âu Châu nhưng ông ta cậy vào Học thuyết Monroe. Tuy nhiên, Rooselvelt đã bật đèn xanh nên những hạm đội Anh, Đức và Ý rầm rộ tiến vào hải phận Venezuela, thoải mái phong tỏa đường biển, đánh đắm hay tịch thu tàu bè, thậm chí nả pháo vào các thành phố, hải cảng. Cipriano vội vã cầu cứu Mỹ nhưng Mỹ lại lấy làm hài lòng khi Âu Châu vẫn tỏ ra dè dặt và tôn trọng Học thuyết Monroe. Venezuela bèn kiện ra toà án quốc tế và phán quyết Toà án Hague ngày 22/2/1904 công nhận việc dùng vũ lực đòi nợ nhưng diễn tiến này lại khiến Mỹ bất an bởi chiến Âu Châu có thể hiện diện hợp pháp ở sân sau của mình. 
 
Mỹ lập tức xét lại chính sách của mình và Học thuyết Monroe được cập nhật với cương lĩnh Roosevelt Corollary, do Tổng thống Rooselvelt công bố ngày 6/12/1904: thứ nhất, nghiêm cấm sự can thiệp của những chính quyền khác trong những vấn đề của Mỹ Châu La-Tinh; thứ hai, Mỹ nhận lãnh vai trò sen đầm khu vực để bảo đảm rằng những quốc gia này “hoàn thành nghĩa vụ quốc tế” của họ. 
 
Để hiểu rõ đường lối này thì hãy nhìn vào Dominican, một đảo quốc nhỏ bé trong vùng biển Caribbean: để khỏi nợ nần thì Dominican có “nghĩa vụ” phải chấp nhận một cố vấn kinh tế Mỹ trong vị trí cầm cân nẩy mực trong hệ thống tài chính của mình. Nhưng Mỹ còn muốn thay thế Âu Châu ở vị trí chủ nợ, như một mũi tên bắn vào hai đích: vừa gạt Âu Châu ra ngoài, vừa hợp pháp hoá quyền can thiệp bằng vũ lực theo án lệ của Tòa án Hague với tư cách chủ nợ. 
 
Khi William Howard Taft – Tổng thống thứ 27 (1909 – 1913) -- kế nhiệm Roosevelt, đường lối “Ngoại Giao Đô-la” do ngoại trưởng Philander Knox khởi xướng lại được ráo riết thi hành. Theo đường lối này thì ngân hàng Mỹ sẽ “tích cực” cho những quốc gia trong khu vực vay tiền và, đến lượt, chính phủ Mỹ sẽ “tích cực” bảo vệ quyền lợi của các ngân hàng và công dân Mỹ khi cần thiết. Như thế, khi được yêu cầu, Mỹ sẽ lập tức tăng phái quân đội với nhiệm vụ “vãn hồi trật tự” để rồi sau đó tổ chức bầu cử nhằm thiết lập một chính quyền “ổn định”.
 
Điều này từng diễn ra tại Nicaragua. Xứ sở này có một vị trí chiến lược bởi tàu bè Mỹ ra vào kênh đào Panama đều phải băng ngang hải phận của Nicaragua, ở cả hai bên đại dương. Tuy nhiên nhà độc tài José Zeleya (1893-1910) chỉ trông dựa vào những ngân hàng Âu Châu và năm 1909, một nhóm quân nhân - khởi động nội chiến nhằm lật đổ Zaleya với sự ủng hộ của Mỹ. Nhưng một năm sau, khi họ ca khúc khải hoàn, Mỹ vẫn chưa chịu công nhận ngay bởi còn phải đợi ngày thay chủ nợ: nước này cần vay tiền Mỹ để trả nợ Âu Châu. Nhưng vẫn chưa xong. Mỹ sau đó còn ép Nicaragua phải chuyển giao quyền kiểm soát ngành quan thuế, là điều mà không một quốc gia tự trọng dễ dàng chấp nhận. Tháng 12/1911, khi Knox đơn phương công bố “Mỹ hoá” ngành quan thuế, bạo động đã bùng nổ nhưng Mỹ đã sẵn sàng với những chiến hạm trên biển và thủy quân lục chiến trên đất liền. 
 
Cả Woodrow Wilson -- Tổng thống thứ 28 (1913 -1921) -- cũng chỉ trích tính chất vô đạo đức ở chính sách ngoại giao này. Năm 1913, sau khi nhậm chức, Wilson đã nêu lên những bất công giữa Mỹ và những quốc gia phương Nam: những đặc quyền đặc ê hề của Mỹ dưới mỹ từ “nhân nhượng” nhưng nước Mỹ thì chưa bao giờ “nhân nhượng” ai cả. Mà Wilson cũng chỉ đả kích để… đả kích thôi bởi, càng đả kích bao nhiêu, ông ta càng củng cố vị trí và quyền lợi Mỹ tại khu vực bấy nhiêu.
 
Nước Mỹ của thế kỷ 19, như thế, đã hành xử như một gã cao bồi mà, nếm mùi nặng nhất, phải là láng giềng Mexico. Sau cuộc chiến 1846-1848 - vốn bùng nổ sau khi Mỹ sáp nhập vùng Texas vào năm 1845 -- Mexico buộc phải nhượng cho Mỹ gần một phần hai lãnh thổ tuy nhiên, qua những thước phim, hay những trang sách phiên lưu rặt giọng cao bồi, người Mexico bao giờ cũng xuất hiện như một thế lực xấu xa, đồi bại. Có bị chèn ép như thế thì ông Porfiario Diáz, Tổng thống Mexico từ năm 1877 đến 1911, mới than: “Khốn nạn thay cho tổ quốc của chúng ta. Thượng Đế thì xa quá mà nước Mỹ thì gần quá!” 
 
Bây giờ, với khúc dạo đầu của nhà “chăn lái giao duyên” với cái tên The Gulf of Mexico thôi, chừng như người Mexico đang sống lại cảm giác của cố Tổng thống Diáz. Thoạt đầu, khi những nhà lập quốc Mỹ chọn cái tên Hiệp chúng quốc Mỹ Châu - United States of America -- họ đã, vô tình hay cố ý, “cướp” luôn cái tên America của cả một châu lục. Bây giờ thì y đòi thay đổi lịch sử, xóa luôn cái tên đã hình thành hơn bốn trăm năm. Y, xét về nhân cách và nghề nghiệp, đúng là một tay “chăn lái” nhưng về phong cách chính trị thì lại là một thứ “tân cổ giao duyên”. “Tân” vì ông ta là của hôm nay, của bốn năm sắp tới. Còn “cổ” là thì muốn quay lại như xưa, từ khẩu hiệu vĩ đại như xưa MAGA, từ phong cách cao bồi viễn Tây chẳng xem pháp luật ra gì, từ phong cách tư bản hoang dã, cái trò làm giàu bằng cách bóc lột xã hội không thương tiếc và phá hoại môi trường không e dè, không vướng víu bất cứ sự kiểm soát nào. 
 
Nền chính trị quốc gia đang biến thành một “thị trường quyền lực” và chính quyền Mỹ đang chuyển mình thành một orligachy, cái bộ máy chính trị quả đầu với sự thao túng của một tội phạm ở trên cao và sự a tòng của đám đặc quyền ở dưới. Không chỉ là người Mỹ mà là tất cả, nếu yêu chuộng công lý và hòa bình, và nếu có khả năng phê phán, có ai mà không cảm thấy bất an? Bất an như những cư dân ở những thị trấn miền viễn Tây ngày nào khi phía chân trời xa cuộn lên những quầng bụi đỏ, báo hiệu một băng cao bồi đang rầm rập tiến vào và tôi, trong cái tâm trạng chung này, không thể không nghĩ đến mẫu văn chuyển tiếp trong tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa khi câu chuyện trở nên gay cấn: “Muốn biết sự việc thế nào, đón xem hồi sau sẽ rõ”. 
 
Quá nửa đời nhìn lại, ai cũng có thể nhận ra rằng thời gian sao mà nhanh quá, những vụng về, những điều trót dại hay lỡ lầm thời trẻ, dẫu đã ngót nghét nửa thế kỷ rồi, vậy mà cứ như là mới ngày hôm qua. Thế nhưng bây giờ, nếu nhìn về thẳng về phía trước để trông đợi cái “hồi sau sẽ rõ”của một nước Mỹ  ảm đạm như cảnh về chiều, chúng ta mới cảm nhận ngược lại rằng thời gian sao mà dài quá, dài đến “thăm thẳm chiều trôi”…

Nguyễn Hoàng Văn
 
Tài liệu tham khảo:
 
Dexter Perkin (1946) A History of the Monroe Doctrine, Boston: Little, Brown and Company.
George F. Kennar (1968) American Diplomacy, 1900-1950, New York: Mentor Book.
Robert D. Schulzinger (1984) American Diplomacy in the 20th Century, Oxford University Press.

Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
Trong chương trình phát hình kéo dài hơn 6 phút trên đài truyền hình quốc gia VTV vào tối ngày 16/08/2026, lần đầu tiên, sau gần một năm rưỡi, công chúng mới được nghe công bố công khai cái gọi là kết quả điều tra về vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội. Bản tin xác nhận người cầm lái xe ô tô lấn trái, vi phạm Luật Giao thông Đường bộ làm chết một nữ sinh và khiến người cha mang thương tích nặng chính là cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.