Thơ Xuân Cao Tiêu (1929-2012)

28/01/202516:17:00(Xem: 3234)
Cao Tieu 2000
Thủ bút Thi Sĩ Ất Tỵ



cao tieu

Từ nhiều năm qua, cứ mỗi độ Xuân về chúng ta lại được đọc câu đối hay thơ chúc Tết bằng chữ Hán cùng thủ bút đầy nét tung hoành phóng dật của thi sĩ Cao Tiêu.

Sinh năm Kỷ Tỵ 1929, nhà thơ của chúng ta là Đại tá Hoàng Ngọc Tiêu, Cục trưởng cục Tâm lý chiến, Tổng cục Chiến tranh Chính trị của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Thi sĩ Cao Tiêu đã giã từ chúng ta vào năm Nhâm Thìn, ngày 14 Tháng Tư năm 2012.

Người đã mất, bút chẳng còn, nhưng thơ Xuân và tấm lòng đôn hậu của Cao Tiêu với Pháp danh Thi Phúc vẫn ở mãi với chúng ta. Như một tưởng nhớ với lòng tri ân, Việt Báo Thơ Xuân đăng lại Thơ Xuân Cao Tiêu từ tập Thi Tuyển của ông, với lời giải và phần dịch thơ của chính tác giả. Mong câu kết của bài Xuân Tận Mỹ, "ngậm sương cỏ đất, bạc rơi khắp miền", cũng là lời tiên báo điềm lành cho năm mới.

________


Xuân Tận Mỹ

Mai đầu hoàng điệp vũ
Hiên ngoại phức lan hương
Trúc đào xuân tận mỹ
Mãn địa thảo hàm sương.

Diễn nghĩa: Bướm vàng múa lượn trên đầu nhánh hoa mai. Hương thơm của hoa lan toả ngát ngoài hiên. Xuân đẹp tuyệt vời trong dáng trúc vẻ đào. Cỏ xanh đầy mặt đất còn ngậm sương lóng lánh như bạc.

Xuân Đẹp Tuyệt Vời

Trên mai, múa cánh bướm vàng
Đó đây ngan ngát hương lan mái ngoài
Trúc đào xuân đẹp tuyệt vời
Ngậm sương cỏ đất, bạc rơi khắp miền.
______________________________

Xuân Bút

Ly quốc tâm băng tuyết
Mỗi xuân hựu kiến mai
Tư quân phong hải giác
Cảm ngã vũ thiên nhai


Lăng vân hồng dục khứ
Kỳ ký khởi quy lai
Thừa chu giang hạ nguyệt
Hoa tiên xuân bút khai


Diễn nghĩa: Xa nước vẫn giữ lòng trong trắng như băng như tuyết. Mỗi độ Xuân về lại thấy hoa mai nở. Nhớ đến bạn phải trải bao gió cát. Cảm thương ta nơi chân trời dầu nắng dãi mưa. Vượt mây ngàn trượng, chim hồng muốn cất cánh bay đi. Ngựa kỳ ngựa ký bắt đầu tung vó quay về. Cưỡi thuyền lướt sóng đêm trăng. Mở giấy hoa tiên khai bút đầu Xuân.

Bút Xuân


Xa quê lòng một niềm băng tuyết
Mỗi thấy xuân về lại nở mai
Nhớ bạn gió sương ngoài góc biển
Thương ta mưa nắng tận chân trời
Chim hồng muốn vượt mây tầng rộng
Ngựa ký về bon vó dặm dài
Trăng thức sông khuya thuyền tách bến
Tờ hoa tiên mở bút xuân khai.

_______________________

Xuân Cầm


Xuân cầm, tư diệu thủ
Tư diễm phát, hoa y
Thuyền tụ thanh giang độ
Sương lung bích liễu ty
Cảm quân ca chúc tửu
Thôi ngã túy đề thi
Tùy dương xuân nhập mộng
Thùy ảnh nguyệt lưu ly

Diễn nghĩa: Nghe khúc đàn xuân, gợi nhớ đến đôi bàn tay người đẹp khi lướt trên phím tơ. Và nhớ đến mái tóc óng ả buông dài xuống tấm áo hoa. Thuyền về tụ họp nhộn nhịp đầy bến xuân xanh. Trời sương, lồng những tơ liễu biếc rủ xuống mặt nước. Cảm vì nàng cất lên tiếng hát bài ca chuốc rượu. Như giục cho ta say hứng đề thơ. Vần điệu theo khúc dương xuân đi vào cõi mộng. Ánh nước lung linh phản chiếu bóng trăng sáng như vầng ngọc lưu ly.


Khúc Đàn Xuân

Đàn xuân rung, nhớ điệu tay ai
Nhớ áo hoa, buông mướt tóc dài
Thuyền thả sông xanh, neo bến hội
Liễu chùng tơ biếc, rủ sương lơi
Ngâm say bút múa, niềm thơ gửi
Nghe ấm hơi ca, hứng rượu mời
Theo khúc dương xuân vào cảnh mộng
Trăng lồng ánh nước, bóng chơi vơi.
______________________________

Xuân Ý


Thanh thiên vân đạm sắc
Nghinh nhật, náo điểu ca
Hiểu phong dao trúc diệp
Xuân ý mãn đào hoa.


Diễn nghĩa: Trời xanh xanh lờ lững vài chòm mây bạc. Tiếng chim ca náo nhiệt đón chào rạng đông của một ngày mới. Làn gió sớm nhẹ lay lá trúc. Và ý xuân nở đầy trong sắc ửng hoa đào.



Ý Xuân


Xanh xanh mây nhạt trời cao
Tiếng chim đon đả đón chào bình minh
Trúc nghiêng gió, lá rung rinh
Đào khoe hoa thắm, ý tình đầy xuân.

________________________

Xuân Ngâm


Sơn thanh thủy tú tương như họa
Điểu khiếu truyền ca đoạn tục giao
Đối cảnh hứng ngâm văn thạch hưởng
Tâm tùy phong lãng, ý vân cao.



Diễn nghĩa: Cảnh xuân nước biếc non xanh đẹp như bức tranh. Tiếng chin hót xen tiếng suối reo khi dứy khi nối tạo thành một khúc nhạc giao hưởng. Khách du đứng trước cảnh, cao hứng ngâm lên, nghe tiếng dội vào vách đá vọng lại. Lòng lâng lâng cất lên theo cánh gió, ý vươn tới mây cao.



Khúc Ngâm Mùa Xuân


Cảnh như vẽ, non xanh nước biếc
Chim đón chào suối tiếp reo vui
Hứng ngâm nghe đá dội lời
Lòng thênh gió lộng, ý ngời mây cao.

Cao Tiêu


Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ