Thương Hại Thay Đất Nước - “Pity the Nation”

3/16/202512:19:00(View: 3841)
iStock-1066969672


Thi sĩ Lawrence Ferlinghetti sinh năm 1919, nay đã hơn 100 tuổi. Ông là người đồng sáng lập tiệm sách City Lights, một điểm đến không thể bỏ qua ở San Francisco cho những ai yêu văn chương và văn học. Bài “Pity the Nation” được ông viết năm 2007, dựa theo bài “Pity the Nation” của Khalil Gibran. Bản dịch Việt ngữ của Ian Bùi. 


oOo

Thương Hại Thay Đất Nước

Thương hại thay đất nước nhân dân là cừu
Bị kẻ chăn dẫn đi lạc lối

Thương hại thay đất nước lãnh đạo nói dối
Người quân tử miệng bị bịt câm
Bọn kỳ cuồng ác tâm phát sóng

Thương hại thay đất nước không cất tiếng
Trừ phi ca tụng kẻ xâm lăng
Vinh danh những thằng ăn hiếp
Chỉ muốn thống trị loài người
Bằng vũ lực và đàn áp

Thương hại thay đất nước không được biết
Ngôn ngữ nào ngoài ngôn ngữ mình
Văn hoá nào ngoài văn hoá mình

Thương hại thay đất nước mỗi hơi thở là tiền
Ngủ giấc mê của kẻ quá no nê

Thương hại thay đất nước,
Thương hại thay con người
Dân quyền bị bào mòn
Tự quyết xói rụng rơi

Quê hương ơi, nước mắt nào sôi
Khi tự do nổi trôi cùng đất nước!

bản dịch của ianbui ngày 2020.09


oOo

“Pity The Nation”

(After Khalil Gibran)

Pity the nation whose people are sheep
And whose shepherds mislead them

Pity the nation whose leaders are liars
Whose sages are silenced
And whose bigots haunt the airwaves

Pity the nation that raises not its voice
Except to praise conquerors
And acclaim the bully as hero
And aims to rule the world
By force and by torture

Pity the nation that knows
No other language but its own
And no other culture but its own

Pity the nation whose breath is money
And sleeps the sleep of the too well fed

Pity the nation oh pity the people
who allow their rights to erode
and their freedoms to be washed away

My country, tears of thee
Sweet land of liberty!

Lawrence Ferlinghetti (2007)

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ