Hôm nay,  

Sông Hậu

11/07/202500:00:00(Xem: 2657)
 
download
Hình: Bìa cuốn tiểu thuyết ‘Thuyền’, NXB Phụ Nữ, 2025.)
 
Đêm sông Hậu, trăng khuyết chiếu mờ mặt sông, sóng ì ọp vỗ mạn thuyền. Đôi khi một bầy chim ăn đêm bay qua sát đầu chúng tôi, cánh chúng xòe ra trong trăng. Đôi khi những con dơi bay chập choạng trong tối như những linh hồn người chết trở lại thăm bạn cũ. Chúng tôi thì thào vào tai nhau những câu chuyện nghe được từ dân làm nghề sông nước. Có lúc sự kiểm soát không gay gắt lắm, chúng tôi được phép lên sàn thuyền ngồi hóng gió. Đôi khi một chiếc ghe nhỏ đi ngang qua, ông chủ thuyền kêu lại mua thêm thức ăn. Không khí ngày tết rộn ràng, tiếng hò trên sông, tiếng máy thuyền, tiếng mua bán nói cười ầm ĩ vọng lại từ một đời sống nửa thực nửa mơ. Một người phụ nữ ngồi trên thuyền vá lại chiếc áo rách cho chồng, như thể chị đang ngồi trong một căn bếp ở thôn xóm an bình nào đó. Liên Hương bóc cho tôi những múi cam còn lại. Một người đàn ông đấm bóp cho một người bạn già đau lưng. Một người kể chuyện những kỷ niệm ăn tết ngày trước. Mùi hoa lài thơm nức trên sàn thuyền, nhìn đi nhìn lại không thấy hoa đâu, có lẽ một luồng gió mang lại từ căn nhà nhỏ trên bờ, bụi hoa mới nở không có ai thưởng thức. Những giờ phút đẹp đẽ, đêm trăng hạ huyền trong lành như được quê hương ban cho lần cuối, nhắc thuở vàng son yêu dấu. Nhiều năm qua, tôi chỉ còn giữ trong lòng đôi ba ký ức của tiếng sóng vỗ, giọng hò mặt sông, trẻ con cười và khóc, hình ảnh người đàn bà ngồi khâu áo cho chồng trên sàn thuyền, mùi lài bay sực nức trong gió.

Nước chảy cuồn cuộn, nhiều nơi sóng dâng cao, chiếu lấp lánh ánh đèn từ bờ sông. Gió mát thổi rào rào mặt nước, thuyền trôi lặng lẽ như một con kình ngư, đen ngòm, mất phương hướng. Tôi nghe tiếng nhạc vọng lại từ quán xá nào đó trên bờ. Càng về khuya, gió càng mạnh, chỉ có vài thanh niên đi lại trên sàn, tôi cố leo lên để hít thở không khí trong lành, bị đuổi xuống khi qua trạm kiểm soát. Những bước chân của lính gác giẫm mạnh trên sàn thuyền, ngay trên đầu chúng tôi, tiếng hỏi, tiếng cười nói, tiếng lên đạn lịch kịch. Con thuyền đi mãi trong đêm, tiếng máy nổ bị che khuất bởi tiếng sóng càng lúc càng lớn đập rầm rầm vào mạn. Trước mặt tôi một cặp tình nhân ngồi dựa vào lòng thuyền ôm chặt lấy nhau. Trên đầu chúng tôi vầng trăng bắt đầu lên, tôi nhận ra đó là những ngày xuân mới tới, ánh trăng và vài ngôi sao chiếu rọi mặt sông, gió thổi ù ù bên tai, tiếng một con chim đi ăn đêm về muộn hót ngang trời, vang đi trên mặt sông, như lời từ giã.

Anh cầm lấy tay em, anh tìm thấy ở đó sức mạnh và sự an ủi.

Tôi quay nhìn lại. Cần Thơ nằm bên hữu ngạn sông Hậu, ánh điện chiếu sáng góc trời. Thoạt kỳ thủy, có một dòng sông, dòng sông chia làm hai nhánh, sông Tiền và sông Hậu, hai con sông làm nên vùng châu thổ rộng lớn mênh mông trù phú. Chúng ta càng hạnh phúc, càng đi về phía dòng sông. Đi về phía dòng sông để tìm lại cội nguồn. Đi về phía dòng sông để tìm lại tự do đánh mất. Sự vật không bao giờ tới chỗ cùng tận, tận cùng thì lại bắt đầu, suy cực lại thành, thịnh cực phải suy.

Đi hết một vòng không lầm lỗi. Em có sợ không?

Em sợ.

Đừng sợ. Chúng ta sẽ không chết.

Chúng ta có bị bắt không?

Không. Chúng ta thoát.

Chúng ta không chết chứ?

Không.

Anh sẽ không xa em nữa?

Không.

Giờ đây chúng tôi nói ít, suy nghĩ sâu hơn về con đường trước mặt. Những cuộc đối thoại nông cạn cũng tựa như tình yêu nông cạn, như cuộc tán gẫu khi bạn ngồi chờ xe buýt với người lạ. Bạn dừng lại ở những nhận xét về thời tiết nắng mưa, những câu hỏi ai cũng có thể trả lời, và trong khi trò chuyện bạn nhìn về phía khác, phía chiếc xe buýt sắp tới. Cũng vậy trong cuộc đời, những mối quan hệ nông cạn, những tình yêu không đủ sâu sắc, không thể mang lại những cuộc đối thoại sâu sắc. Một người mở trái tim ra như một căn phòng mở cửa, bạn đi vào, sâu hơn, xa hơn, thân mật hơn. Vì thế, bạn phải bỏ lại sau lưng nhiều thứ, để gặp được nhiều thứ khác. Không có một lời hứa nào cả. Tự do cũng vậy, đó là một chọn lựa. Tôi tin mọi chuyện rồi ổn thỏa cả. Cuộc lữ bắt đầu. Không có gì đáng sợ nữa.

Thời tiết êm ả. Những ngày bị săn đuổi, bắt giữ đã qua. Tôi nắm chặt tay Liên Hương. Tay nàng ấm ướt, để yên trong tay tôi. Những ngày sợ hãi và lo lắng làm cả hai chúng tôi kiệt sức, nếu không được lên thuyền lớn hôm nay chúng tôi sẽ ngã gục. Trong những kênh rạch miền Nam, thuyền có nhiều loại, nhiều cỡ tùy theo địa thế sông nước. Xuồng ba lá là do ba miếng gỗ ghép lại, lướt nhanh, vì đáy thuyền phẳng, nổi gần mặt nước. Có thuyền chèo tay, có thuyền lắp máy. Ghe tam bản thường có mui, dài và rộng. Ghe bầu lớn hơn có thể đi trên sông lớn, rẽ nước mạnh. Ghe chài rất lớn, lòng thuyền làm chỗ nghỉ ngơi, sàn thuyền có mui che mưa nắng. Bánh lái thuyền nằm ở đằng sau. Ghe thuyền lớn có ca bin buồng lái, người tài công ngồi sau bánh lái. Thuyền của chúng tôi khá lớn, gần ba mét bề ngang, mười mét bề dài, chứa được hơn năm mươi người, nhưng số người nó mang đi là gấp ba. Khoang thuyền chia làm nhiều ngăn, mũi thuyền, lòng thuyền, đuôi thuyền có máy, các dụng cụ như mỏ neo, dây neo, dầu mỡ, trang thiết bị của máy. Chỗ người thợ máy ngồi ngay dưới chỗ người tài công. Có một lỗ trống giữa sàn thuyền với cầu thang vịn trèo lên trèo xuống. Vì chân vịt để trần, một thanh niên vô ý rơi xuống nước, bèo quấn vào chân vịt, đứt ngang một bàn tay.

Bàn tay nào, phải hay trái?

Cuộc ra đi này, khóc ra máu đầm đìa.

Con người trì hoãn cái chết bằng sự khốn khổ.

Tôi nhìn thấy tất cả, không để sót một điều gì, trừ một vầng trăng mỏng mảnh cuối trời, lẩn lút như câu hỏi. Tập thở. Tập thở như tôi vừa đến bầu khí quyển khác. Thở bằng mũi, thở bằng miệng, thở có ý thức. Thở bụng. Cảm nhận hết mùi hôi trong khoang thuyền, mồ hôi người, mùi nôn mửa, mùi nước tiểu, mùi sợ hãi. Tâm trí tôi mờ đi, đưa tay lên dụi mắt, nó sáng lại, được một lúc lại âm u mờ mịt.

Bỗng nhiên em muốn về nhà, Liên Hương nói.

Sao em nghĩ vậy?

Em không biết.

Em đói phải không?

Không.

Em sợ?

Em không biết. Em muốn đầu hàng. Em không nhìn thấy con đường đi của mình.

Em lầm rồi. Chúng ta đã xuống thuyền lớn. Đang ở trên sông. Chúng ta sẽ ra biển.

Em biết.

Nhưng chúng ta là ai? Liên Hương nhìn tôi từ trong bóng tối, ánh mắt của nàng sáng lên, buồn bã.

Chúng ta là những người ra đi. Và sẽ đến.

Liên Hương gật đầu. Có một lúc trong khoang thuyền tối om từ một khoảng cách khá xa tôi nhìn thấy Liên Hương mỉm cười. Trong suốt chuyến đi, đó là lần đầu tiên nàng mỉm cười. Nụ cười rạng rỡ sáng lên trong tối.

Đúng là tôi đã nhìn thấy như thế, phải không?

Hay là ảo giác?

Nhiều năm sau, tôi nói: em, anh đã tìm thấy con đường của chúng ta. Liên Hương nhắm mắt lại. Nàng bao giờ cũng tin vào lời nói của tôi, vào những điều mà tôi tin tưởng. Không một câu chuyện nào tôi kể lại chỉ là kể về tôi. Những người lắng nghe sẽ nhớ lại cuộc đời của chính họ. Chỗ ngồi của tôi ở ngay mũi thuyền, phía trên có lỗ nhỏ thông hơi từ đó có thể nhìn ra ngoài, quan sát trong góc hẹp. Tôi nghe được nhiều chuyện, nhìn thấy chúng. Tôi không cố tình chọn chỗ ấy, chẳng qua vì mọi người xô qua đẩy lại, giành chỗ nằm tiện lợi, người nào yếu đuối như người già, trẻ con đi một mình, người không muốn chen lấn, sẽ bị đẩy ra gần phía khu vực mũi thuyền, nơi bị sóng đánh, dễ nôn ói. Sau một lúc, tôi nhận ra thùng sắt lớn, mới đầu người dùng thứ cầu tiêu dã chiến này ngồi trơ ra trước mắt mọi người, về sau có người buộc tấm màn kéo lại, vậy chỗ tôi nằm sát với cái thùng cầu tiêu, cách nó một tấm màn, đầu gối lên nó, tai nghe tiếng động của người sử dụng, mắt nhìn thấy bóng mờ mờ, âm thanh khó chịu. Ngày thứ nhất, tôi hoàn toàn không ngủ được. Ngày thứ hai, lợm giọng, buồn ói, suốt ngày nhắm mắt, nhắm mắt thì không nhìn nhưng mũi vẫn ngửi, tai vẫn nghe. Sang ngày thứ ba tôi bắt đầu quen thuộc, không cần nín thở. Dù sao người ta cũng không thể nín thở hàng giờ được, tôi đứng lên, đầu chạm vừa khéo vào trần gỗ, mắt đặt vào cái lỗ nhìn ra ngoài, nhờ ngắm cảnh vật trên sông nước, trên bờ, mà tôi nguôi ngoai nỗi bực mình. Trên thuyền có lẽ trừ viên tài công ngồi ở bánh lái đằng sau, không còn ai có chỗ ngồi như tôi, mọi người mù điếc trong năm ngày trên sông. Về sau tôi biết khi ra đến gần cửa biển thì ghe chúng tôi không thể qua trạm gác cuối cùng, phải quay đầu đi ngược về phía tây, nhưng cũng nhờ thế mà những ngày trên sông, tâm trí để trôi theo những đám lục bình, tôi đã được nhìn thấy đàn sếu bay qua mịt mờ khói sóng, nghe tiếng kêu buồn buồn của chúng, nhìn người chài lưới tung lưới trên mặt nước, những đàn cá tung tăng ánh bạc đẹp mê người. Tôi nghe tiếng hò trên sông của những cô gái chèo thuyền, cảnh trời chiều tối mênh mông buồn bã, như ngày xưa tiền nhân đi mở nước. Trời nóng, hơi người dội hầm hập trong khoang thuyền, giấc ngủ chập chờn, buổi sáng mai thức dậy quên mình ở đâu, muỗi vo ve, ruồi bắt đầu bay đi bay lại trên thùng cầu tiêu, bám vào mặt khi tôi ngủ, những con ruồi nhặng to bằng đầu ngón tay út trẻ con. Một lần nghe tiếng đờn kìm của con thuyền đi chơi khuya. Tôi ngửi thấy mùi cà phê thơm lừng mặt nước. Đó là lúc gần tới sáng, trăng bạc màu chập chờn như cái dĩa bị vỡ, tôi mệt quá ngủ thiếp đi, lại thức dậy, tay chân ngứa ngáy, người nổi ban đỏ. Mùi cà phê làm tôi quên hết. Sau những ngày bất động trong bóng tối, người già suy kiệt, trẻ con bị tiêu chảy, nhiều người ho, nóng sốt, tôi biết nếu tình cảnh kéo dài vài hôm nữa, sẽ hoảng loạn. Trên bờ, tiếng chợ búa tiếng cười nói, trên sông tiếng máy nổ xình xịch của thuyền bè, sự lãnh đạm của con người, vẻ đẹp của sông nước giờ đây tất cả như cành phù dung héo rũ. Trời nóng, đốt cháy mặt nước, dội hầm hập vào khoang thuyền, vào giấc ngủ chập chờn, thổi vào giấc mơ thành ác mộng, buổi sáng mai thức dậy quên cả mình ở đâu. Nhai bánh mì cứng như đá hay gói cơm nguội trong bóng tối. Chia nhau hớp nước. Thì thào. Tiếng súng ai bắn vu vơ trên đầu. Tiếng búa nện vào đinh. Một đứa trẻ khóc. Một người phụ nữ ói vọt ra, mùi chua đến nghẹt thở. Tôi kéo Liên Hương lại gần, ôm lấy nàng, thương xót. Tôi cảm thấy hối hận. Nước chảy mà chưa thể thông đi. Trong trạng thái kỳ ảo, nửa mơ nửa tỉnh, tôi nghe thấy một tiếng động rất nhỏ từ xa. Tôi mở mắt nhìn quanh, mọi người đều ngủ cả. Tôi nhắm mắt lại một lúc lại nghe thấy tiếng động. Thoạt đầu như một giọt sương rơi xuống trên lá, lát sau như tiếng bước chân, lát sau như tiếng gió. Cảm giác ấy làm tôi sung sướng lạ thường, tựa như tôi không còn hiện hữu, tưởng như tôi đã qua một thế giới khác, cũng hiện hữu nhưng theo một cách khác, cuối cùng tôi nghe được tiếng hát ấy. Bây giờ càng lúc càng nghe rõ. Tôi nhắm mắt lại, sung sướng tưởng có thể chết đi được. Tiếng một người ca kỹ đi chơi về khuya cất giọng hát trên sông.

Nguyễn Đức Tùng

(Trích Thuyền, tiểu thuyết, NXB Phụ Nữ, 2025.)

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.