Hôm nay,  

Từ Vol de Nuit đến Đời Phi Công

23/08/202516:44:00(Xem: 2576)

VTD 2

 

Nhà văn Pháp Saint Exupéry (1900-1944) nổi tiếng với nhiều tác phẩm nổi tiếng vào những thập niên đầu của thế kỷ XX và nhiều tác phẩm của ông đã được các dịch giả ở Sài Gòn dịch sang tiếng Việt. Với cuộc đời binh nghiệp phi công của ông đã ấn hành các các phẩm L'Aviateur (Người Phi Công, 1926), Courrier Sud (Chuyến Thư Miền Nam, 1929), Pilote de Guerre (Phi Công Thời Chiến, 1942), Le Petit Prince (Hoàng Tử Bé, 1943, Bùi Giáng và Trần Thiện Đạo dịch). Cuốn Vol de Nuit (Bay Đêm, 1931) dày 140 trang là một khúc tráng ca về màn đêm và những con người dũng cảm đi tiên phong trong ngành hàng không. Với tâm hồn nhà văn và kinh nghiệm của một phi công lão luyện đã giúp ông vẽ nên những khung cảnh hùng vĩ đầy sắc màu, đầy thơ mộng nhưng cũng ẩn giấu những nguy hiểm khôn lường dưới đôi cánh bay, kể về những năm tháng sống ở Nam Mỹ đã được giải thưởng Prix Femina của Văn Học Pháp. Tác phẩm nầy do Lê Huy Anh dịch, Văn ấn hành năm 1966.

 

Năm 1934 Saint-Exupéry đã đến Việt Nam làm phóng viên của tờ báo Paris-Soir. Năm 1935 ông tham gia cuộc đua phi cơ Paris - Sài Gòn nhằm phá kỷ lục về tốc độ hàng không. Cuộc thi và trải nghiệm của chuyến bay này tạo cảm hứng sáng tác cho cuốn tiểu thuyết Petit Prince, được đánh giá là kiệt tác và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Chiếc phi cơ Caudron Simoun của Saint-Exupéry cùng với hoa tiêu André Prévot, đã bị rơi phi cơ ở sa mạc Sahara ở Libya trên lộ trình tới Sài Gòn. Họ đã được những người Ả Rập giải cứu và câu chuyện này đã được nhà văn kể lại trong tác phẩm Terre des Hommes, 1939 (Cõi Người Ta – Bùi Giáng dịch). Tác phẩm này được đánh giá rất cao và đã giành giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp.

 

Vì vậy vài tác phẩm nhà văn không quân Saint-Exupéry đã ảnh hưởng phần nào với với những chàng trai thời Việt Nam Cộng Hòa…

 

Ngày 31 tháng 7 năm 1944, Saint-Exupéry lái chiếc phi cơ P-38 Lightning mang số hiệu F-5B-1-LO, cất cánh từ một căn cứ trên đảo Corse với nhiệm vụ thu thập thông tin về quân Đức ở thung lũng sông Rhone. Người ta không bao giờ còn nhìn thấy ông quay về. Một phụ nữ đã nhìn thấy một chiếc phi cơ rơi vào trưa ngày 1 tháng 8 ở gần Vịnh Carqueiranne, thi thể một quân nhân mặc quân phục Pháp cũng được tìm thấy vài ngày sau đó và được chôn cất ở Carqueiranne vào tháng 9.

 

Nước Pháp vinh danh phi công tài hoa dũng cảm, nhà văn nổi tiếng.

vtd 1

 

*

Trên đất Pháp nầy, chàng trai trẻ Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân Việt Nam trong chính phủ Quốc Gia Việt Nam du học ra đời với tác phẩm Đời Phi Công của Toàn Phong.

 

Đại Tá Nguyễn Xuân Vinh, Tư Lệnh Không Quan đầu tiên của VNCH, Giáo Sư, Khoa Học Gia, Viện Sĩ Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế.

 

Về tiểu sử, danh tiếng, tấm lòng, văn nghiệp của GS Nguyễn Xuân Vinh (1930-2022) là niềm vinh dự và hãnh diện trong Quân Lực VNCH, với cộng đồng người Việt tị nạn hải ngoại đã được đề cập rất nhiều; vì vậy trong bài viết nầy chỉ ghi lại phần nào về tác phẩm Đời Phi Công.

 

Theo lời ông: “Sau ba năm ở Pháp và ở Maroc, 1952-1955, tôi được huấn luyện thành một sĩ quan phi công, có bằng lái phi cơ hai động cơ và thẻ trắng (carte blanche) để bay trời mù theo đúng tiêu chuẩn của Không Quân Pháp. Cũng trong thời gian ở Pháp, tôi hoàn tất chương trình cử nhân toán ở Đại học Marseille và cũng có thêm văn bằng cao học để chuẩn bị thi tiến sĩ toán học”.

 

Năm 1955, sau khi ở Pháp về Việt Nam, trải qua thời gian từ cấp Trung Úy. Quốc khánh 26 tháng 10 năm 1957, ông được thăng cấp Trung Tá và được bổ nhiệm chức vụ Tham Mưu Trưởng Không Quân. Tháng 2 năm 1958 ông được bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Không Quân, thăng cấp Đại Tá.

 

Theo lời tác giả: “Cuốn sách đầu tay của tôi là cuốn Gương Danh Tướng, là một tập sách nhỏ chưa đến 100 trang, do Nha Chiến Tranh Tâm Lý thuộc Bộ Quốc Phòng in ra vào năm 1956. Tuy sách in ra tới mười ngàn cuốn nhưng dạo đó tôi đang làm phụ tá tùy viên quân lực tại Sứ Quán Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn, nên chỉ nhận được mươi cuốn và đem tặng ngay các thân hữu nên không còn giữ được một bản nào...

 

Gương Danh Tướng khi mới còn đang là một đại úy để nêu lên những đức tính cần phải có của những người lãnh đạo trong quân đội. Cũng nhằm mục đích nêu lên tình người và tình yêu tổ quốc và không gian của những người nặng nghiệp bay mà sau này tôi viết cuốn Đời Phi Công. Nhờ sự phổ biến sâu rộng của cuốn sách này mà giới thanh niên và sinh viên hiểu biết thêm về Không Quân Việt Nam và chúng tôi đã tuyển mộ được nhiều thanh niên ưu tú để gửi sang theo học những khóa huấn luyện bay những phi cơ tối tân của Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ .

 

Với tác phẩm thứ nhì Đời Phi Công “Tôi bắt đầu viết vào năm 1959 và đăng mỗi tuần một kỳ, vào ngày thứ Hai, trên báo Tự Do là một nhật báo có nhiều độc giả trên toàn quốc”.

 

Nhà văn, nhà báo, nhà phê bình văn học Phạm Việt Tuyền (1926-2009) giữ chức vụ Tổng Thư Ký của Hội Bút Việt thành lập ngày 21/10/1957 do nhà văn Nhất Linh làm Chủ Tịch sáng lập, sau đổi thành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Tác phẩm Đời Phi Công của Toàn Phong do Tự Do ấn hành và nộp dự tranh Giải Văn Chương Toàn Quốc.

 

Trong bài viết Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam & Các Giải Thưởng Văn Chương (1955-1975) của Nguyễn Mạnh Trinh Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1958-1959 do ông Trương Công Cừu khoa trưởng đại học Văn Khoa làm Chủ Tịch.

 

Bộ môn Tiểu Thuyết: Tác phẩm Đò Dọc của Bình Nguyên Lộc, Thần Tháp Rùa của Vũ Khắc Khoan, Đời Phi Công của Toàn Phong, Mưa Đêm  Cuối Năm của Võ Phiến.

Đời Phi Công là truyện vừa, 54 trang, gồm 9 chương. Theo lời tác giả: “Một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời”.  Phượng cô em hàng xóm ông dạy kèm ở Hà Nội từ hồi nhỏ. Đầu lá thư ông chỉ viết “Phượng”, trong thư có thêm “Phượng em”!

 

Theo cốt truyện, ông xa Phượng vào đầu tháng 10 năm 1951, theo học tại Khóa I trường Sĩ quan Trừ Bị Nam Định, vào Nam, mất liên lạc với Phượng hai năm, đến năm 1953, khi ông sang Pháp học bay ở Salon de Provence, Paris.

 

Qua 9 chương, mỗi lá thư, không ghi ngày tháng, ông đã kể cho Phượng nghe từ Đường Đời Muôn Nẻo, Ánh Sáng Kinh Thành, Trăng Dãi Bắc Phi, Gió Hải Hồ, Có Một Đàn Chim, Tuyết Trắng, Hội Mùa Hoa, Hẹn Một Ngày Về, Tiếng Gọi Lên Đường.

 

Lá thư đầu tiên:

 

“Phượng, Viết thư này anh đã ở xa em muôn vạn trùng dương. Anh mỉm cười khi đặt bút vì nghĩ rằng em vẫn thường chê cái tính thích giang hồ vặt của anh. Lần này thì anh đi hẳn, đi thật xa cho đến khi nào công thành anh mới trở về…

 

Em cũng như tất cả những người thân tình, cũng như tất cả những người dân Việt chắc hẳn phải đồng ý rằng nước nhà cần có đủ mọi ngành quân lực. Đường đời muôn vạn nẻo anh đã chọn lấy một hướng, dù gian nan muôn trùng anh cũng sẽ mỉm cười dấn bước. Anh mong rằng em sẽ đọc hết bức thư này với một nguồn vui mới trong lòng”.

 

Lá thư thứ ba:

 

“Phượng, Thế là chúng ta giận nhau rồi em nhỉ vì từ sáu bảy tháng nay anh không nhận được thư em để mà đọc những câu thơ chinh phụ dang dở như tình đời ngang ngửa…

Anh đã bắt đầu bay đêm nghĩa là đang trải qua chặng đường chót ở đây. May mắn thì một tháng nữa anh có thể rời khỏi xứ này, rời những cái oi ả để về gần quê hương hơn chút nữa. Anh sẽ thấy đỡ nhớ quê hương hơn, tuy rằng xa cách trọn nửa trái cầu thì gần hơn vài ba ngàn cây số cũng chỉ thế mà thôi...

 

Phượng ơi! Em có thấy không? Với một chân tình thì một chút hương vị mơ hồ cũng là đủ. Phương trời xa em chỉ cần mỉm miệng cười tha thứ ở đây anh cũng cảm thấy. Một ánh trăng rằm mơ màng, một vì sao rơi lạc lõng cũng thừa đủ gây vui buồn cho người bay bốn hướng huống chi là cả một nụ cười rực rỡ, một ánh mắt huy hoàng…”

 

Lá thư thứ tư:

 

“Phượng,

Nhận được thư em đúng dịp đang thi mãn khoá nên đến nay anh mới viết được cho em. Nghĩ thật trẻ con, cái chuyện chúng ta giận nhau em nhỉ. Tự nhiên vắng thư em sáu bảy tháng trời, nếu anh không viết trước cho em chắc em còn giận anh lâu nữa. Làm anh bao giờ cũng phải chịu thua mà. Anh đã chả từng nói với em rằng có những con người sinh ra chỉ để chịu thiệt. Hạnh phúc của em được toàn vẹn là anh mãn nguyện rồi.

Em Phượng! Anh không hẹn cùng em nhưng một ngày kia cánh chim bao giờ cũng quay về tổ cũ. Câu chuyện kèm em học nó cũng chỉ dở dang như một ngày mưa gió các anh ngừng bay. Tại sao em không có gần đây để cùng các anh ngồi quanh một lò than hồng. Sẽ có một ngưòì đã từng qua nhiều bão táp kể lại một câu chuyện xa xưa…”

 

Lá thư thứ năm:

 

“Phượng,

Trái với những lần trước, lần nay anh viết thư cho em ở một nơi xa tất cả thị thành. Cuộc sống của những người phi công như các anh đã là cả một cuộc hợp tấu trái ngược đến nặng nề... Hằng ngày định mệnh quẳng các anh lên không trung, lao vào một cuộc sống bềnh bồng, cô độc, để đợi lúc đèn đô thị vừa lấp lánh, ánh sao hôm chỉ đường cho toán người phiêu bạt tìm về tổ…

Em Phượng! Đêm Noel đã qua rồi và giờ đây anh viết lại cho em những tâm tưởng đã qua tại một nơi xa tất cả thị thành. Trong này là một lò than ấm và ngoài kia là mưa tuyết, là núi rừng Ancelles…”

 

Lá thư thứ tám:

 

“Phượng,

Biết bao nhiêu lần đổi chỗ ở, biết bao nhiêu chuyến đi nhưng rời miền Provence sau một năm học anh không khỏi thấy lòng lưu luyến. Ở đây em đừng nghĩ rằng anh lưu luyến vì ham cảnh lạ đường xa nước người. Đã chả bao nhiêu lần anh nói với em rằng chỉ có non sông nước ta là đẹp với lòng anh. Nước sông Hồng cuồn cuộn, bờ Cửu Long xanh thăm thẳm phải đẹp hơn vạn giải trường giang anh đã gặp. Và chưa có nụ cười nào làm anh thấy bâng khuâng bằng nụ cười của cô em gái quê nhà…

Còn vài tháng nữa anh sẽ trở về nhà. Anh tin rằng anh sẽ là một trong những người lính chiến đấu đến cùng để giử lại một phần đất… Em cứ cười lên khi thấy anh bước lên phi cơ và mở máy. Từng cánh chim sẽ rời đất và mang theo đoàn người đi làm phận sự và cũng vì thế mà anh đã trải qua bao tháng ngày gian khổ để luyện tập ở đây...”

 

Và lá thư thứ chín: “Ngày hôm nay đây, khi mà gần một triệu dân đã di cư vào Nam, đáng lẽ anh phải ở nhà để gần Bác, gần em, gần bao nhiêu đồng bào khác thì anh vẫn còn phải lênh đênh nơi này. Giá anh tốt nghiệp sớm hơn chừng hai tháng, có lẽ anh đã có dịp chở những đồng bào cuối cùng rời Hải Phòng. Nhưng tiếc thay anh về hơi muộn và giờ chỉ còn biết vui mừng khi được tin thân quyến đã được yên hàn tới Sài Gòn…

 

Dòng thư cuối cùng: “Anh ngồi viết cho em một buổi chiều nắng vàng chưa tắt. Ba năm về trước anh đã hứa những gì với em, chắc em còn nhớ. Chỉ độ hai tuần nữa anh sẽ gặp lại em. Nét cười có phác hồn tang hải, mái tóc có phai màu sương gió nhưng anh vẫn còn là anh của em như độ nào. Anh rời em một ngày đông lạnh lẽo ở Hà Thành và sẽ gặp lại em vào cuối một mùa xuân ở đô thị Sài Gòn. Non nước kinh kỳ đà rời chỗ, còn em của anh có khác xưa không?”

 

Tác phẩm Đời Phi Công đã có ảnh hưởng rất mạnh vào lớp thanh niên lúc đó. Hình ảnh người phi công trở thành một biểu tượng của thời đại đầy nét hấp dẫn với tuổi trẻ. Những bức thư gửi cho người tình tên Phượng đã thành những ấp ủ trong mộng của cả một thế hệ thanh niên. Có nhà phê bình cho rằng “Cuốn sách đã tạo nhiều ảnh hưởng, được tái bản nhiều lần và hàng ngàn người trai trẻ nô nức gia nhập Không Lực để thực hiện lý tưởng và hoài bão của mình trong thời chiến tranh khốc liệt”.

 

Vài tác giả cho rằng Đời Phi Công của Toàn Phong tựa như Vol de Nuit của Saint-Exupéry, với tôi, không đúng như vậy. Với người đam mê đọc sách như ông và cùng xuất thân nơi đào tạo phi công, dĩ nhiên những tác phẩm của nhà văn Pháp có thể là nguồn cảm hứng sau 4 năm về nước phục vụ trong quân ngũ. Ông không viết hồi ký như Saint-Exupéry mà qua những lá thư chia sẻ cho người em gái nhỏ, người tình.

 

Những lá thư tình rất hay, chia sẻ buồn vui, giận hờn, an ủi khi xa nhau thuần túy trong tháng ngày binh nghiệp, không đề cập đến việc học hành ở đại học. Những lá thư nầy không viết từ Pháp mà khi trở về Việt Nam với kỷ niệm xưa.

 

GS Nguyễn Xuân Vinh cho biết, hồi còn học sinh đã đọc tác phẩm Les Grands Coeurs của văn hào Ý Edmond De Amicis. Bản tiếng Việt với Tâm Hồn Cao Thượng qua bản dịch của nhà giáo Hà Mai Anh, ấn hành năm 1944 rất hay coi như “sách gối đầu giường”. Với 60 trang hồi ký và lá thư từ Ngày Khai Trường đến Trang Cuối Cùng Của Mẹ Tôi.

 

GS Nguyễn Xuân Vinh với những công trình biên soạn trong lãnh vực khoa học, không gian… Tác phẩm Theo Ánh Tinh Cầu, truyện ký ấn hành năm 1991. Theo lời ông: “Tôi đã viết ra hai cuốn sách về khoa học không gian với những tựa đề là Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics và Optimal Trajectories in Atmospheric Flight. Những Năm 1993 tôi có viết thêm cuốn sách với tựa đề Flight Mechanics of High-Performance Aircraft…”

 

Nếu đọc Vol de Nuit, có những dòng Saint-Exupéry mô tả trong những chuyến bay đêm tâm hồn phi công trên cánh chim sắt giữa bầu trời thì trong những lá thư của Toàn Phong với tâm hồn lãng mạn của nhà văn. Tác phẩm Đời Phi Công tuy mỏng nhưng ảnh hưởng lớn trong “chí làm trai” trong thời chinh chiến dấn thân với “Tổ Quốc Không Gian”.

 

Vương Trùng Dương

 

Hãy tưởng tượng bạn có một đứa con đang ở Trung Đông, đang mặc quân phục Hoa Kỳ, tham dự cuộc chiến Iran do Tổng thống Donald Trump phát động. Mỗi sáng, bạn mở tin tức. Mỗi tối, bạn nhìn điện thoại. Bạn chờ một lời nhắn, một giọng nói, một dấu hiệu nhỏ nhoi rằng con mình vẫn còn sống. Bạn biết giữa hai lần điện thoại reo, biết bao nhiêu chuyện có thể xảy ra. Rồi một ngày, bạn nghe vị tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tuyên bố chính ông đã quyết định nới lỏng các biện pháp trừng phạt Nga, bất chấp đạo luật được Quốc Hội thông qua và chính ông đã ký ban hành. Bạn cũng biết chính quyền Vladimir Putin đang giúp Iran trong cuộc chiến chống lại những người lính Hoa Kỳ.
Nobel Văn Chương thường là giải thưởng cao quý nhất trên thế giới cho cả sự nghiệp văn chương của cho toàn bộ tác phẩm (hoặc tác phẩm tiêu biểu) đóng góp văn chương của tác giả. Mỗi năm, Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển thông báo hàng ngàn đề nghị ứng cử viên được gửi đi trên thế giới. Các đề cử tác giả phải được gửi đến Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển trước ngày 1 tháng 2, sau đó một ủy ban sẽ xem xét các đề cử kỹ lưỡng. Từ tháng 4, giới hạn số ứng cử xuống còn khoảng 20, đến mùa hè thì chỉ còn khoảng 5 tác giả nằm trong danh sách đề cử. Các tháng tiếp theo, viện sĩ của Viện bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm của những ứng cử viên cuối cùng… Giải thưởng thường công bố vào tháng 10.
Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.
Trong một tác phẩm cùng tựa đề, Nhà Văn Cung Tích Biền đã có lần từng ước muốn "Không nên có mặt". Tuy nhiên, như một định mệnh, ông vẫn sống, có mặt và phải chứng kiến đầy đủ mặn ngọt cuộc đời suốt hơn 90 năm như một chứng nhân của thời cuộc, của những thăng trầm, ly loạn của đất nước. Cuộc chiến Việt Nam từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp cho tới khi đất nước thống nhất mất 30 năm, thế mà ông văn nghiệp của ông đã kéo dài tới 65 năm. Có thể nói, ông là một nhà văn viết lâu, viết khoẻ và cũng là một chứng nhân giữa cuộc phong ba, khắc nghiệt của nước nhà. Bất kể bạn đồng ý hay không với những gì ông viết, bạn cứ đọc ông bạn sẽ hiểu rõ thân phận lạc loài của con người đứng giữa lằn ranh cuộc chiến. Bao nhiêu người bị chi phối trực hay gián tiếp trong cuộc tranh chấp máu lửa tương tàn, bị cắt đứt gốc rễ với quá khứ, không tìm thấy mục đích ở hiện tại và mơ hồ trước tương lai.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau? Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực.
Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì đó trở ra.
Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.